Đi ngược quyết tâm của Chính phủ, gây 6 hệ lụy với nền kinh tế

Nhiều quy định về điều kiện kinh doanh đang đi ngược lại và cản trở quyết tâm, giải pháp của Chính phủ về cải thiện môi trường kinh doanh, cắt giảm k

Tồn kho hàng triệu tấn than: “Ông lớn” ngành than, điện đã tự “thoả thuận” giá mua bán
Thuế xăng dầu cao quá!
Những mẫu ô tô giảm giá mạnh nhất trên thị trường

Nhiều quy định về điều kiện kinh doanh đang đi ngược lại và cản trở quyết tâm, giải pháp của Chính phủ về cải thiện môi trường kinh doanh, cắt giảm kinh phí cho công ty; làm nản lòng công ty và gây ra 6 hệ lụy lớn đối có nền kinh tế.

Mới đây, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã đề nghị các Bộ, cơ quan nghiên cứu kỹ kết quả rà soát điều kiện kinh doanh (ĐKKD) cộng kiến nghị của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM), chủ động đề xuất bãi bỏ các điều kiện không cần thiết, không thích hợp; tăng cường lấy ý kiến, đối thoại có công ty, hiệp hội. Giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư thi công Nghị định về kiểm soát ĐKKD, trình Chính phủ trong tháng 12/2017.

Theo CIEM, giai đoạn này có tới 4.284 ĐKKD tương ứng có 243 ngành nghề kinh doanh có điều kiện, thuộc phạm vi quản lý của 15 Bộ. Bộ Công Thương có số điều kiện lớn nhất (1.152), Bộ Tư pháp có ít điều kiện nhất (64).

Số lượng các ĐKKD thuộc phạm vi quản lý của các Bộ. Thủ tướng đã giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư thi công Nghị định về kiểm soát ĐKKD, trình Chính phủ trong tháng 12/2017.

Qua nghiên cứu kỹ, CIEM khẳng định so sánh có các nguyên tắc của OECD, chất lượng thể chế về kinh doanh của Việt Nam còn thấp và đang góp phần làm giảm năng lực tranh giành của nền kinh tế, biểu hiện qua 6 hệ lụy.

6 hệ lụy có nền kinh tế từ ĐKKD bất cập

Thứ nhất, các ĐKKD đang tạo ra rào cản bất hợp lý đối có đầu tư, gia nhập phân khúc, làm hạn chế số lượng công ty đăng ký mới, làm nản lòng các công ty đang hoạt động.

Lý do là quy định về ĐKKD thường đề nghị phải có mặt bằng lớn, cơ sở vật chất và trang thiết bị lớn, đòi hỏi nhiều bằng cấp và bí kíp, đòi hỏi phải kinh doanh theo 1 phương thức nhất định như phải nằm trong chuỗi phân phối lẻ của 1 công ty, có phương án kinh doanh được phê duyệt…

Thứ hai, các ĐKKD đang làm giảm tranh giành phân khúc. Do các đề nghị, điều kiện ngặt nghèo, các nhà đầu tư tiềm năng chẳng thể gia nhập phân khúc, không tạo ra sức ép tranh giành. Bên cạnh đây, các ĐKKD thường gắn có hàng hóa, dịch vụ của 1 đơn vị công lập hoặc được Nhà nước chỉ định, tạo ra lợi thế độc quyền, cản trở các nhà đầu tư tham dự cung cấp hàng hóa, dịch vụ. Ví dụ điển hình là các đề nghị phải được đào tạo và cấp chứng chỉ bởi cơ quan hành chính, sự nghiệp nhà nước.

Thứ ba, các ĐKKD đang làm giảm động lực đổi mới sáng tạo của công ty. Nhiều ĐKKD ép buộc công ty phải kinh doanh theo 1 phương thức nhất định, phải sử dụng 1 loại công nghệ nhất định, phải thành lập 1 loại công ty nhất định. Các quy định của ĐKKD thường mô tả chi tiết, cứng nhắc giải pháp sản xuất, kinh doanh của công ty. Do đây, các công ty không có không gian để đổi mới, sáng tạo, tạo ra nhu cầu mới, cung cấp nhu cầu của người tiêu dùng tốt hơn, góp phần nâng cao tiềm năng và chất lượng tăng trưởng.

Thứ tư, nhiều ĐKKD đang làm giảm năng suất và giảm sức tranh giành của công ty và nền kinh tế. Nhiều ĐKKD làm tăng kinh phí không cần thiết cho công ty, làm giảm giá trị tăng lên công ty có thể tạo ra. Quy định của ĐKKD khiến cho lãnh đạo công ty mất nhiều thời gian để nghiên cứu quy định, tiếp xúc có cán bộ nhà nước để tuân thủ pháp luật hoặc tránh bị phạt, không có thời gian nâng cao chất lượng quản lý công ty, tìm kiếm phương thức canh doanh mới hiệu quả hơn.

Thứ năm, nhiều ĐKKD tạo ra rủi ro lớn cho công ty trong quá trình hoạt động. Nhiều giấy phép kinh doanh có thời hạn ngắn, khiến công ty khó dự liệu cho tương lai, không muốn đầu tư lớn. Nhiều ĐKKD đề nghị phải thích hợp có quy hoạch trong khi Nhà nước chưa có quy hoạch và quy hoạch có nhiều cách tân. Rủi ro chính sách phân phối hàng nhìn chung và ĐKKD nói riêng luôn là điểm quan ngại danh tiếng của công ty trong các cuộc khảo sát ý kiến công ty.

Thứ sáu, nhiều ĐKKD không rõ ràng, tạo ra thời cơ cho sự tùy tiện trong quản lý nhà nước và sự nhũng nhiễu của 1 số cán bộ. Nhiều điều kiện được quy định chung chung, không rõ ràng, không cụ thể, ví dụ như: “rõ ràng”, “thích hợp”, “đủ”, “sạch sẽ”, “thoáng mát”, “có đủ”, “thuận tiện”, “thích hợp”, “có đạo đức tốt’, “đủ sức khỏe”… Những điểm không rõ ràng này chính là cơ sở để 1 số cán bộ vòi vĩnh công ty, gây ra kinh phí phi chính thức lớn cho công ty.

“Những tác động này đang đi ngược lại và cản trở quyết tâm, giải pháp của Chính phủ về cải thiện môi trường kinh doanh và cắt giảm kinh phí cho công ty”, TS Nguyễn Đình Cung, Viện trưởng CIEM nhấn mạnh.

Từ các đánh giá trên đây, CIEM đã kiến nghị bãi bỏ hơn gần 2.000 đề nghị, ĐKKD, cụ thể là bãi bỏ tất cả hoặc 1 phần 302 điều kiện về tài chính, bãi bỏ tất cả 85 ĐKKD về vị trí, bãi bỏ tất cả 1.336 điều kiện về năng lực sản xuất.

Cùng có đây là bãi bỏ các điều kiện về nhân lực, trừ 1 số nghề thực sự đòi hỏi trình độ, bí kíp, ví dụ như nghề y, nghề kiểm toán; bãi bỏ tất cả 127 điều kiện về phương thức kinh doanh; bãi bỏ tất cả 80 điều kiện về quy hoạch; bãi bỏ tất cả hoặc 1 phần các điều kiện có nội dung không thích hợp khác.

Đồng thời, CIEM kiến nghị cách tân giải pháp quản lý kinh doanh theo nguyên tắc, thông lệ tốt của OECD theo hướng thay các điều kiện có tính chất tiền kiểm, kinh phí lớn bằng các nguyên tắc, quy chuẩn về an toàn; chuyển phương thức quản lý từ tiền kiểm sang hậu kiểm…

Những ngành nghề không nên áp đặt ĐKKD

Trong khi đây, nhóm nghiên cứu kỹ của VCCI cho biết trong 243 ngành nghề kinh doanh có điều kiện, hiện có tổng số 5.719 ĐKKD. Trong đây, nhiều nhất là Bộ Công Thương có 27 ngành nghề kinh doanh có điều kiện thuộc phạm vi quản lý có 1.220 ĐKKD. Ít nhất là Bộ Xây dựng cũng có 17 ngành nghề kinh doanh có điều kiện có 106 ĐKKD.

Trong số 243 ngành nghề, VCCI cho rằng có 16 ngành, nghề được xác định là các ngành, nghề kinh doanh điều kiện là chưa thích hợp và 10 ngành, nghề kinh doanh có phạm vi kiểm soát chưa thích hợp. Cụ thể, 1 số ngành, nghề không nhận thấy tác động đáng kể nào tới lợi ích công cộng: Kinh doanh dịch vụ chuyển nhượng nợ; xuất khẩu gạo; kinh doanh dịch vụ đại lý tàu biển; kinh doanh dịch vụ in, trừ in bao bì.

Một số ngành, nghề không nhận thấy rõ tính đặc biệt so có các ngành, nghề kinh doanh bình thường cộng loại (trong khi các ngành nghề này bị áp đặt ĐKKD thì các ngành nghề cộng loại lại không bị áp đặt): Kinh doanh tạm nhập, tái xuất hàng thực phẩm đông lạnh; kinh doanh dịch vụ bảo dưỡng, bảo trì xe xe 4 phân phốih; kinh doanh dịch vụ quản lý, hoạt động nhà chung cư; kinh doanh dịch vụ lữ hành.

Một số ngành, nghề có thể kiểm soát bằng hình thức quản lý khác thay vì ĐKKD: Sản xuất, sửa chữa chai chứa khí dầu mỏ hóa lỏng; kinh doanh dịch vụ quản lý, hoạt động cơ sở hỏa táng; sản xuất mũ bảo hiểm cho người đi mxe 4 phân phốih, xe gắn máy; kinh doanh dịch vụ sản xuất, phát hành và phổ biến phim; kinh doanh dịch vụ trình làng sản phẩm quảng cáo đến công chúng.

Một số ngành, nghề có phạm vi kinh doanh bị kiểm soát quá rộng, như kinh doanh thức ăn thủy sản, thức ăn chăn nuôi; kinh doanh thủy sản; kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật; kinh doanh phân bón; kinh doanh giống cây trồng; kinh doanh giống thủy sản. Các ngành nghề này chỉ cần kiểm soát ĐKKD ở khâu sản xuất.

Một số ngành, nghề kinh doanh có phạm vi không rõ: Kinh doanh thực phẩm thuộc lĩnh vực quản lý chuyên ngành của Bộ Công Thương; kinh doanh thực phẩm thuộc lĩnh vực quản lý chuyên ngành của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; kinh doanh thực phẩm thuộc lĩnh vực quản lý chuyên ngành của Bộ Y tế.

Hơn nữa, có 1 số loại hàng hóa thực phẩm cũng thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Công Thương nhưng được tách riêng ra thành các ngành, nghề kinh doanh có điều kiện, ví dụ gạo, thực phẩm đông lạnh. Khái niệm “thực phẩm thuộc lĩnh vực quản lý chuyên ngành của Bộ Công Thương” có thể chồng lấn có các nhóm hàng này.

Đặc biệt, có các ngành, nghề không phải là hoạt động kinh doanh; có ngành, nghề, xét về bản chất lại không phải là ngành, nghề, ví dụ kinh doanh dịch vụ logistics bao gồm 1 hoặc nhiều hoạt động như vận tải, đâyng gói, làm thủ tục thuế, hải quan…

3 đặc điểm nổi trội của các ĐKKD

Qua rà soát 14 ngành nghề của 3 Bộ: Công Thương, Giao thông vận tải, Khoa học và Công nghệ, VCCI chỉ ra ba đặc điểm nổi trội của các ĐKKD:

– Điều kiện kinh doanh có tính chấp áp đặt tổng diện tích công ty. Như đơn vị vận tải taxi phải có tối thiểu 50 xe taxi nếu trụ sở đặt ở các đô thị trực thuộc trung ương; thương nhân xuất khẩu, nhập khẩu LPG phải có kho tổng dung tích các bồn chứa tối thiểu 3.000 m3; thương nhân phân phối rượu phải có kho hàng kho hàng tối thiểu tổng tổng diện tích phải từ 300 m2 trở lên hoặc khối tích phải từ 1000 m3 trở lên. Thương nhân kinh doanh tạm nhập, tái xuất hàng thực phẩm đông lạnh phải có số tiền ký quỹ là 10 tỷ đồng Việt Nam nộp ở 1 tổ chức tín dụng; thương nhân phân phối rượu phải có số vốn tối thiểu 01 tỷ Việt Nam đồng; thương nhân phân phối buôn rượu phải có số vốn tối thiểu 300 triệu Việt Nam đồng…

– Điều kiện kinh doanh có tính chất can thiệp vào quyền tự quyết của công ty. Như đề nghị các thương nhân kinh doanh LPG đầu mối phải tổ chức kinh doanh theo hệ thống phân phối tổng đại lý, đại lý, cửa hàng phân phối LPC chai, phải có trạm cấp hoặc trạm nạp LPG…; phương án kinh doanh của các công ty kinh doanh vận tải bằng xe 4 phân phốih phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; các công ty kinh doanh dịch vụ chứng nhận sự thích hợp phải ký kết hợp đồng lao động có thời hạn 12 tháng trở lên; công ty cung cấp dịch vụ đại lý tàu biển, vận tải biển, lai dắt tàu biển phải có người phụ trách chuyên trách về pháp chế…

– Điều kiện kinh doanh có tính chất can thiệp vào phân khúc bằng các giải pháp, mệnh lệnh hành chính. Ví dụ đề nghị điều kiện về nghiệp vụ chuyên môn của các nhân viên phục vụ trên phương tiện xe 4 phân phốih, tàu thủy nội địa; đề nghị nhân viên phục vụ trên phương tiện vận chuyển khách du lịch phải được tập huấn về nghiệp vụ du lịch; đơn vị kinh doanh vận tải bằng xe xe 4 phân phốih theo tuyến cố định, xe buýt, xe taxi phải đăng ký và thực hiện nguyên tắc chất lượng dịch vụ vận tải hành khách; đề nghị đại lý, cửa hàng phân phối lẻ mũ bảo hiểm phải có địa chỉ cụ thể, rõ ràng, “biển hiệu ghi rõ đại lý hoặc cửa hàng phân phối lẻ mũ bảo hiểm cho người đi mxe 4 phân phốih được gắn hoặc treo ở vị trí mặt trước ngoại khu của đại lý hoặc cửa hàng ở vị trí dễ quan sát”…

Bài 6: Logistics – Hai tầng điều kiện kinh doanh?

Bạn đang xem chuyên mục Kinh Te VI Mo Dau Tu ở CTT.EDU.VN

Bạn nên click xem thêm tài liệu của trang nàyhttps://giakhanhland.vn/kien-thuc/

COMMENTS

WORDPRESS: 0
DISQUS: 0