PGS.TS Lê Xuân Trường: Nhiều nước tăng thuế VAT bù đắp nguồn thu thành công, không lý gì Việt Nam không nghiên cứu và sửa đổi theo hướng này!

Trao đổi có Trí Thức Trẻ, PGS.TS Lê Xuân Trường, giảng viên cấp cao Bộ môn Thuế, Học viện Tài chính cho biết trên địa cầu đang có xu thế giảm 1 số sắ

Thứ trưởng Bộ GTVT: Không di dời, không mua lại trạm thu phí BOT Cai Lậy
Thoái vốn Nhà nước trong 8 tháng thu về hơn 15.800 tỷ đồng
Vì sao từ Quảng Ninh cho đến Hà Nội, Tp.HCM đều đồng loạt học theo mô hình quán ‘cà phê doanh nhân’ của Đồng Tháp?

Trao đổi có Trí Thức Trẻ, PGS.TS Lê Xuân Trường, giảng viên cấp cao Bộ môn Thuế, Học viện Tài chính cho biết trên địa cầu đang có xu thế giảm 1 số sắc thuế như Thu nhập công ty, Thu nhập cá nhân… và để bù đắp, 1 trong một vài một vàih làm là tăng thuế gián thu. “Các nước đã làm trước và làm thành công. Vậy không lý gì Việt Nam không nghiên cứu kỹ và sửa đổi chính sách bán hàng theo hướng này”, ông Trường nói.

Ông phân tách như thế nào về tác động của đề xuất tăng VAT phổ thông từ 10% lên 12% của Bộ Tài chính?

Xét 1 một vàih tổng thể thì tăng thuế suất thuế giá trị tăng thêm (GTGT) – 1 sắc thuế thuộc loại thuế tiêu dùng có thể làm giảm tổng cầu hoặc giảm tiết kiệm của dân cư hoặc không có tác động đáng kể. Tác động cụ thể như thế nào còn tùy thuộc vào điều kiện cụ thể về điều kiện kinh tế vĩ mô và mức tăng thuế suất.

Các nhân tố kinh tế vĩ mô có thể ảnh hưởng đến tác động của tăng thuế suất thuế giá trị tăng thêm đến tăng trưởng kinh tế chủ yếu là: Cơ cấu tiêu dùng dân cư về một vài loại hàng hóa, dịch vụ; cơ cấu tiêu dùng sản phẩm nội địa và sản phẩm nhập khẩu; cơ cấu sản phẩm xuất khẩu… Những nhân tố này và tác động của tăng thuế suất đến tăng trưởng kinh tế cần phải có số liệu thống kê và đưa vào mô hình kinh tế lượng để đánh giá. Không thể nói cảm tính được.

Bộ Tài chính lý giải tăng thuế nhằm tăng cường nguồn thu, nhưng nếu tăng thuế GTGT trong bối cảnh cầu tiêu dùng đang giảm như giai đoạn này, liệu có tác dụng ngược?

Theo nhà kinh tế học Laffer thì tăng thuế suất sẽ dẫn đến tăng thu NSNN nhưng thuế suất tăng quá cao có thể dẫn đến giảm thu NSNN. Muốn xác định đề xuất này có tác dụng ngược hay không cần phải có số liệu thống kê và đưa vào mô hình kinh tế lượng để đánh giá.

Tuy nhiên, theo bí kíp của 1 số nước có điều kiện tương đồng mà tôi được biết thì có mức tăng thuế suất thuế giá trị tăng thêm (VAT) như giai đoạn này không có khả năng gây tác dụng ngược, tức là có khả năng tăng thu cho NSNN. Tuy vậy, rất cần thực hiện điều tra thực ở để có số liệu phân tách có cơ sở thực tiễn.

Bộ Tài chính viện dẫn mức thuế suất bình thường 10% là tương đối thấp, chưa thích hợp có thông lệ quốc tế, khó chắc chắn an toàn tài chính quốc gia, bởi thế, cần phải tăng thuế. Lý do này liệu có hợp lý?

Chúng ta đã hội nhập và tiếp tục hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế địa cầu. Vì vậy, việc thực hiện thông lệ quốc tế là lẽ dĩ nhiên. Chẳng hạn như, xu hướng giảm thuế Thu nhập công ty của địa cầu một vài năm qua đã diễn ra và chúng ta chẳng thể đứng ngoài cuộc. Bởi nếu đứng ngoài thì sẽ chẳng thể chắc chắn tính tranh giành của hệ thống thuế, không lôi kéo đầu tư để phát triển sản xuất, kinh doanh.

Đồ họa: Hương Xuân.

Đồ họa: Hương Xuân.

Hội nhập cũng làm giảm nguồn thu từ nhập khẩu nên phải có nguồn thu khác để bù đắp và một vài nước đã có nhiều chọn lọc, trong đây có tăng thuế gián thu. Các nước đã làm trước và làm thành công. Vậy không lý gì Việt Nam không nghiên cứu kỹ sửa đổi chính sách bán hàng theo hướng này. Chỉ có điều phải có nghiên cứu kỹ cẩn thận khi ứng dụng, tránh ứng dụng máy móc.

Bộ Tài chính đã yêu cầu nâng mức thuế suất thuế GTGT theo hai phương án. Phương án 1 tăng từ 10% lên 12% kể từ ngày 1/1/2019, phương án 2 là tăng theo công đoạn lên 12% từ ngày 1/1/2019 và 14% từ ngày 1/1/2021. Trong đây, Bộ Tài chính yêu cầu cân nhắc phương án 1.

Về quan điểm cá nhân, ông nghĩ gì về đề xuất này trong bối cảnh giai đoạn này?

Về căn bản tôi ủng hộ đề xuất này. Tôi chỉ lưu ý thêm 3 điều. Một là, mọi sự chọn lọc chính sách bán hàng đều có hai mặt – được và mất. Không có sự chọn lọc nào chỉ có thế mạnh mà không có hạn chế. Khi đã chọn lọc là phải đồng ý cả một vài mặt được và một vài mặt chưa được. Chỉ có điều cần cân nhắc tổng thể để đạt lợi ích tổng thể tốt nhất.

Hai là, mong muốn của Đảng ta, Nhà nước và nhân dân ta đều có điểm chung là nâng cao mọi mặt của cuộc sống nhân dân. Để làm được điều này thì có nhiều việc, trong đây có giảm nghĩa vụ thuế.

Tuy nhiên, muốn giảm nghĩa vụ thuế thì phải giảm chi NSNN, nếu không sẽ dẫn đến thâm hụt NSNN, tăng nợ công… mà hậu quả của nó là ảnh hưởng đến việc thực hiện một vài nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội của Nhà nước.

Đến lượt nó lại ảnh hưởng đến cuộc sống nhân dân. Như vậy, câu chuyện về thuế không chỉ đơn thuần câu chuyện về thuế mà là nhiều vấn đề khác như: Nâng cao hiệu quả, hiệu lực của bộ máy Nhà nước; tinh giản biên chế; quản lý chi tiêu NSNN tiết kiệm và hiệu quả; chống tham nhũng hiệu quả…

Ba là, do tác động của thuế là tác động dây chuyền và phức tạp tùy thuộc vào nhiều biến số kinh tế vĩ mô nên mọi sự điều chỉnh về thuế, trong đây có điều chỉnh tăng thuế suất thuế giá trị tăng thêm cần thực hiện điều tra để lấy số liệu thực ở phân tách 1 một vàih khoa học, tiên đoán có cơ sở khoa học và thực tiễn làm căn cứ chọn lọc chính sách bán hàng.

Cảm ơn ông!

Tăng VAT lên 12 tác động gì đến kinh tế Việt Nam?

Bạn đang xem chuyên mục Kinh Te VI Mo Dau Tu ở CTT.EDU.VN

Bạn nên click xem thêm tài liệu của trang nàyhttps://giakhanhland.vn/kien-thuc/

COMMENTS

WORDPRESS: 0
DISQUS: 0