Trực tuyến tọa đàm “Luật CNTT và định hướng phát triển trong thời gian tới”

ictnews Ngày 15/8/2017, Bộ TT&TT tổ chức tọa đàm "Luật CNTT và định hướng phát triển trong thời gian tới". Đây là dịp để Bộ TT&TT tham khảo ý

Tồn kho hàng triệu tấn than: “Ông lớn” ngành than, điện đã tự “thoả thuận” giá mua bán
Không nên ồ ạt hút khách Trung Quốc
Bộ Công Thương: Sẽ cắt giảm khoảng 600 điều kiện kinh doanh

ictnews Ngày 15/8/2017, Bộ TT&TT tổ chức tọa đàm “Luật CNTT và định hướng phát triển trong thời gian tới”. Đây là dịp để Bộ TT&TT tham khảo ý kiến phân tích toàn diện, đa chiều của 1 số chuyên gia, 1 số doanh nghiệp về Luật CNTT và định hướng phát triển trong tương lai.

Tham dự tọa đàm có đại diện 1 số đơn vị trong Bộ TT&TT, Hiệp hội Internet, Hội Tin học Việt Nam, Hội Vô tuyến điện tử, Sở TT&TT TP Hà Nội và đại diện 1 số doanh nghiệp như: Viettel, MobiFone, VNPT, FPT, CMC, VTC, DTT, VC Corp, Nhaccuatui, Next Tech, Clip TV… cộng nhiều doanh nghiệp ICT khác.

Toàn cảnh buổi tọa đàm

Toàn cảnh buổi tọa đàm

Luật CNTT được Quốc hội thông qua năm 2006 là văn bản luật Thứ nhất về CNTT ở Việt Nam. Sự ra đời của Luật có 1 số quy định rõ ràng, minh bạch đã tạo ra hành lang pháp lý quan trọng về quản lý nhà nước cho việc phát triển và tiến hành CNTT thời gian qua. Với quan điểm hỗ trợ và thúc đẩy phát triển ngành, Luật CNTT đã quy định các điều kiện thiết yếu căn bản để phát triển công nghiệp CNTT thành 1 ngành kinh tế mũi nhọn, đồng thời đẩy mạnh tiến hành CNTT trong toàn bộ 1 số lĩnh vực kinh tế – xã hội trên phạm vi cả nước.

Sau 10 năm thi hành, Luật CNTT đã bộc lộ 1 số bất cập trong bối cảnh CNTT là ngành phát triển nhanh, có 1 số 1 sốh tân có tác động có tính đột phá. Vai trò của CNTT trong mọi mặt cuộc sống xã hội, kinh tế, thương mại, giáo dục, quốc phòng… càng ngày càng quan trọng và được nâng lên tầm cao mới. Từ 1 lĩnh vực kỹ thuật có tính hỗ trợ, CNTT đã trở thành 1 động lực phát triển có tác động lan toả, toàn diện, giúp chuyển đổi 1 số mô hình kinh doanh, nghiệp vụ truyền thống thông qua thúc đẩy sáng tạo, đổi mới dựa trên công nghệ số. Sự chuyển dịch mạch mẽ đó đặt ra nhiều thách thức và đòi hỏi 1 số quy định mới thích hợp trong lĩnh vực CNTT.

Thứ trưởng Bộ TT&TT Nguyễn Thành Hưng nhận định, sau hơn 10 năm triển khai thi hành Luật CNTT, tình hình quốc tế, sự phát triển của Việt Nam và chính bản thân ngành CNTT đã có nhiều 1 sốh tân. Tại Việt Nam, năng lực quản lý, nhu cầu tiến hành, phát triển CNTT và trình độ dân trí cũng được nâng cao. Thế giới đã bước sang thập niên thứ hai của thế kỷ XXI có các 1 sốh tân căn bản về khoa học, công nghệ, mức độ tranh đua trên trường quốc tế. Đang có các xu hướng phát triển công nghệ mới có nhiều đột phá và sáng tạo như IoT, SMAC, AI, Robotic… toàn bộ 1 số công nghệ trên sẽ là nền móng để địa cầu bước vào cuộc 1 sốh mạng công nghiệp lần thứ 4. Vì vậy, việc rà soát, đã đi vào làm việc 1 số chính sách phân phối hàng, pháp luật về CNTT để thích hợp có xu thế phát triển và thực ở càng phát triển thành cấp bách. Chính phủ đã yêu cầu Bộ TT&TT chủ trì, thi công Đề án sửa đổi, bổ sung Luật CNTT.

Thứ trưởng Bộ TT&TT Nguyễn Thành Hưng phát biểu ở Tọa đàm.

Thứ trưởng Bộ TT&TT Nguyễn Thành Hưng phát biểu ở Tọa đàm.

Phát biểu khai mạc buổi tọa đàm, Thứ trưởng Nguyễn Thành Hưng bày tỏ, có sự hiện diện đông đảo của 1 số nhà quản lý, 1 số Hiệp hội, 1 số doanh nghiệp, 1 số chuyên gia trong lĩnh vực CNTT, ông tin tưởng rằng nhiều vấn đề bức xúc, nhiều vấn đề tồn ở của ngành CNTT sẽ có được các kiến nghị, đề xuất tốt trong việc tổng kết 10 năm thi hành Luật CNTT.

“Có thể nói, việc tổng kết 10 năm thi hành Luật CNTT là rất quan trọng. Tuy nhiên, tôi cho rằng, có 1 số doanh nghiệp, có ngành CNTT thì không chỉ chịu sự tác động riêng của Luật CNTT mà còn bị tác động bởi nhiều Luật khác. Bản thân các người kinh doanh, làm việc trong lĩnh vực CNTT cũng biết rằng bên cạnh Luật CNTT còn chịu chi phối bởi nhiều Luật khác. Do đó, quan điểm của chúng tôi, khi tổng kết Luật CNTT, không chỉ là nói đến các tồn ở, các mặt được, chưa được của Luật CNTT mà cũng mong muốn 1 số đại biểu có các đề xuất, kiến nghị có Quốc hội, Chính phủ về các nội dung, nội hàm ở 1 số luật khác có tác động đến ngành CNTT, tác động đến hiệu quả làm việc của 1 số doanh nghiệp CNTT”, Thứ trưởng chia sẻ.

Thứ trưởng cũng cho biết, qua 10 năm thi hành Luật CNTT, các suy nghĩ, quan điểm của chúng ta về CNTT đã có nhiều 1 sốh tân, do sự 1 sốh tân mau chóng về khoa học công nghệ. Ví dụ như, khi triển khai Luật CNTT, chúng ta dựa trên nền móng về hạ tầng, dịch vụ, công nghiệp và nguồn nhân lực. Ngay về hạ tầng, trước đó chúng ta nghĩ nhiều đến hạ tầng viễn thông, nhưng GĐ này ta đặt vấn đề về hạ tầng thiết bị và 1 số hạ tầng khác như hạ tầng kết nối qua 1 số thiết bị, hạ tầng chi trả cho 1 số doanh nghiệp trong lĩnh vực nội dung số… Đó là các vấn đề nảy sinh, phát sinh chưa được biểu hiện rõ trong nội hàm 1 số văn bản pháp luật. Do vậy, trong quá trình triển khai còn gặp gặp khó.

Hay có vấn đề tiến hành, theo 1 sốh hiểu truyền thống trước đó là tiến hành CNTT trong cơ quan nhà nước, trong thi công Chính phủ điện tử nhưng mở rộng ra nói đến vấn đề tiến hành GĐ này là hướng đến thi công 1 xã hội kết nối, biểu hiện 1 số mối quan hệ giữa Chính phủ, người dân, doanh nghiệp. Vì thế, có các vấn đề chúng ta phải tham khảo, đặt vấn đề 1 1 sốh nghiêm túc. Còn về Công nghiệp CNTT, mối quan tâm từ xưa đến nay, nhiều khi chúng ta chỉ nghĩ công nghiệp làm thế nào để Nhà nước có sự quan tâm, đặt ra 1 số chính sách phân phối hàng ưu đãi, giảm thuế cho doanh nghiệp. Nhưng ngoài các vấn đề đó ra, GĐ này còn rất nhiều vấn đề khác mà chúng ta cần quan tâm. Đặc biệt, nguồn nhân lực là vấn đề hỗ trợ rất quan trọng cho 3 mảng trên. Thứ trưởng yêu cầu, là các nhân vật chính của buổi tọa đàm, đại diện 1 số doanh nghiệp, 1 số nhà báo sẽ có các ý kiến đóng góp khách quan, thẳng thắn để góp phần cho tổng kết 10 năm thi hành Luật CNTT và định hướng chính sách phân phối hàng GĐ tới của Bộ có thể biểu hiện được phần nào mong muốn của 1 số doanh nghiệp làm việc trong lĩnh vực CNTT.

Đầu tiên, chúng tôi muốn đặt câu hỏi cho ông Bùi Quang Ngọc, Tổng Giám đốc FPT, 1 trong các doanh nghiệp ICT lớn có câu hỏi có tính tổng quát.

Theo ông, hệ thống 1 số văn bản pháp lý, chính sách phân phối hàng về CNTT của Việt Nam GĐ này có 1 số nghị quyết, chỉ thị, nghị định, luật và 1 số văn bản khác như chọn lọc, quy hoạch đã thích hợp có sự phát triển của ngành CNTT hay chưa? Chúng ta cần điều chỉnh thế nào để cung cấp được nhu cầu phát triển?

Ông Bùi Quang Ngọc, Tổng Giám đốc FPT

Ông Bùi Quang Ngọc, Tổng Giám đốc FPT

Ông Bùi Quang Ngọc: Câu hỏi này rất tổng quát, bởi vì 1 số văn bản có nhiều mà cũng có rất nhiều vấn đề có thể thảo luận, tuy nhiên tôi chỉ xin nói về 1 số lĩnh vực khá cụ thể. Về 1 số văn bản chính sách phân phối hàng quan trọng nhất của 1 ngành công nghiệp, thúc đẩy 1 ngành công nghiệp phát triển là phải tạo ra Cung và Cầu cho phân khúc. Trong khi đó thì 1 số văn bản, thể chế GĐ này của mình về mặt tạo ra Cầu rất yếu. Ví dụ Nghị quyết 36a về Chính phủ điện tử, hiệu lực thì giao nhiệm vụ cho rất nhiều đơn vị, Bộ này phải làm thế này, UBND tỉnh kia phải làm thế kia, văn bản thì nói rất hay, Nghị quyết 36a thì nói hay lắm, giả dụ theo yêu cầu của văn bản có các mục tiêu về chính quyền điện tử, giao thông thông minh thì chỉ vài năm sau là nước ta có thể sánh ngang có Singapore về tiến hành CNTT trong 1 số cơ quan nhà nước. Nhưng có 1 thực ở là về tính hiệu lực thì rất yếu, thậm chí có các nơi còn chả làm gì cả.

Tôi cho rằng, khi nhà nước thi công văn bản thì phải có tính khả thi, chú trọng tính hiệu lực, tính khả thi và có chế tài đi kèm nếu không thực hiện. Văn bản chính sách phân phối hàng trong chừng mực nào đó cần thúc đẩy mạnh vai trò của cơ quan nhà nước, mà ở toàn bộ quốc gia thì nhà nước là người tạo Cầu lớn nhất, nhà nước phải đi tiên phong, xong mới đến doanh nghiệp. Doanh nghiệp phải tự thân vận động vì nhu cầu tranh đua họ phải ép buộc tin học hóa. Còn nhà nước phải tạo Cầu kích thích sự phát triển, Cầu nhà nước trong văn bản ra không rõ. Chính quyền có ngân sách của mình rất gặp khó, khi cắt giảm ngân sách thì ngân sách dành cho tin học bị cắt Thứ nhất. Các cơ quan nhà nước nếu trụ sở làm việc chật hay thiếu xế hộp còn băn khoăn, chứ nếu thiếu tiền thì thiết bị về tin học đang dùng rồi cứ để nguyên đó. Để thúc đẩy ngành công nghiệp CNTT phát triển phải tạo được Cầu từ phía nhà nước, phải nêu rõ được trong 1 số chính sách phân phối hàng của nhà nước, nhà nước cần phải tạo Cầu cho việc phát triển tin học hóa, sau đó mới đến chính sách phân phối hàng thúc đẩy khác.

Ví dụ về thuế, VINASA đã chủ động làm việc có Chính phủ về thuế lương doanh nghiệp, thuế lương cá nhân ngành phần mềm cũng bắt đầu được hưởng từ chính sách phân phối hàng thuế nhưng không nhiều. Chỉ có các doanh nghiệp, khu công nghệ cao thì được hưởng, nhưng còn có 1 số starup, cá nhân người Việt đang ngồi ở Việt Nam làm việc cho nước ngoài thì chưa có chính sách phân phối hàng ưu đãi họ, thúc đẩy họ quay trở về làm việc cho Việt Nam. Do đó phải có chính sách phân phối hàng thuế lương cá nhân rất rõ để thúc đẩy, Bộ TT&TT khi thi công chính sách phân phối hàng rất cần chú trọng phát triển nhân lực. Mục tiêu huy động nguồn lực xã hội cũng phải có chính sách phân phối hàng thúc đẩy, ví dụ việc tiến hành thuế điện tử, hải quan điện tử làm tốt rồi, nhà nước cần có thêm các thể chế thúc đẩy việc điện tử hóa để tạo nguồn Cầu cho ngành CNTT, tạo yêu cầu cho xã hội phải tuân thủ, ngân sách nhà nước phải đổ tiền vào để tiến hành CNTT.

Nhà nước cũng phải gỡ bỏ các chính sách phân phối hàng quy định cản trở, hạn chế, ví dụ như chính sách phân phối hàng về phí có dịch vụ Internet. Nói về Cầu Chính phủ, Chính phủ điện tử và làm việc khác dùng ngân sách nhà nước, Nghị định 102 giải đáp lập dự án CNTT sử dụng vốn nhà nước quá phức tạp. Vì Nghị định 102 được thi công dựa trên 1 sốh thức của làm dự án thi công căn bản. Một 1 sốh thức “đầy mùi công trường” tiến hành cho giá thành CNTT đầy trí tuệ. Ví dụ, giá thành xây lắp, giá thành thiết bị, được áp cho CNTT, giá thành đào tạo phần mềm, được áp vào giá thành thiết bị, việc tiến hành này rất méo mó, cực kỳ khó triển khai, chẳng thể làm được. Bộ Tài chính 2 năm dự định xong 1 dự án, có dự án 3 năm, có dự án CNTT ngân sách mật độ chi 85% phần cứng, 15% dịch vụ, giá thành này là méo mó, gây gặp khó cho doanh nghiệp.

Bây giờ chúng tôi muốn nghe thêm 1 ý kiến nữa của doanh nghiệp cũng có nhiều đóng góp về chính sách phân phối hàng trong thời gian qua. Xin mời ông Nguyễn Trung Chính, Chủ tịch CMC.

Ông Nguyễn Trung Chính, Chủ tịch CMC

Ông Nguyễn Trung Chính, Chủ tịch CMC

Ông Nguyễn Trung Chính, Chủ tịch CMC: Đến có tọa đàm, CMC đã dự định báo cáo 5 trang khá đầy đủ 1 số kiến nghị. Chúng tôi sẽ chuyển lại cho lãnh đạo Bộ. Tuy nhiên, nếu để phát biểu ngắn tôi xin có mấy ý. Luật CNTT ra đời năm 2009 thì CMC đã được hưởng lợi Thứ nhất. Là doanh nghiệp viễn thông tư nhân duy nhất cho đến thời điểm GĐ này được làm trong lĩnh vực viễn thông. Luật 2009 cho tư nhân được phát triển trong 1 số ngành nghề pháp luật không cấm, như trong đầu tư hạ tầng. Khi có Luật Viễn thông, trước đó 1 số quan hệ trong lĩnh vực viễn thông được thực hiện bằng 1 số chỉ thị, Nghị quyết, nhiều vấn đề dựa trên hệ thống về quy hoạch, nghị định. Khi có Luật thì tốt hơn rất nhiều, có cơ sở pháp lý khá đầy đủ cho làm việc phát triển. Luật có các điểm thuận lợi, tích cực cho sự phát triển của CNTT là căn bản.

Tuy nhiên đi tiếp các văn bản dưới luật, những nội dung còn rơi rớt lại của quá trình trước khi có văn bản Luật cũng như quá trình thực hiện, có nhiều văn bản đôi khi thậm chí trái lại tinh thần của Luật, hạn chế các điều Luật đã cho phép. Rất nhiều Thông tư, Nghị định đưa ra gây nhiều gặp khó cho doanh nghiệp. Ví dụ ngay như có Nghị quyết 36a cũng bị vướng câu chuyện là có sự phân biệt giữa 1 số thành phần nhà nước, tư nhân. Tôi tin 1 số doanh nghiệp nhà nước cũng không thích bị phân biệt đối xử. Họ cũng thích 1 môi trường, 1 thể chế, 1 luật chơi cho 1 số thành phần. Nhà nước mong muốn được 1 số điều kiện như tư nhân, còn ngược lại tư nhân cũng mong muốn các gì rào cản, mình không được tiếp cận thì rất gặp khó. Thậm chí có các chọn lọc của Chính phủ có điểm rất gặp khó. Như quy định về quỹ Viễn thông công ích bắt đầu từ Luật, sau đó Luật đưa ra quy định không có tính phân khúc lắm khi Thủ tướng chính phủ sẽ chọn lọc mức phí và 1 sốh thu. Quyết định đó nếu không có các dự đoán thuộc thuế hay phí, bản chất của phí là gì, 1 sốh thu, 1 sốh chi phải rất rõ ràng. Đôi khi kể cả chọn lọc của Thủ tướng cũng gây ra gặp khó nhất định. Nhìn chung, mức độ gặp khó của văn bản dưới luật rất nhiều và điều này chúng tôi đã liệt kê trong bản kiến nghị. Về vấn đề làm thế nào thúc đẩy nền kinh tế số phát triển: lĩnh vực CNTT đóng góp, là động lực quan trọng để phát triển kinh tế số. Để phát triển thì dịch vụ Internet, thoại, kết nối, dữ liệu… phải phát triển, phải làm thế nào càng ngày càng rẻ để khả năng tiếp cận thuận tiện, bình đẳng cho toàn bộ 1 số đối tượng liên quan.

Gần đó có phát biểu của Cục Phát thanh Truyền hình và Thông tin điện tử, Bộ TT&TT trên báo chí về mạng xã hội: Tôi cho rằng 1 sốh phát biểu như thế có cảm giác là mọi người không nhìn thấy 1 số mặt tích cực. Đi ngược lại tư tưởng nền kinh tế số là có 1 trong các công dụng căn bản là chia sẻ tri thức. Mà không có gì tốt bằng công cụ mạng xã hội để chia sẻ tri thức thì anh lại nhìn thấy đó như 1 nguy cơ lớn. Đó là tư tưởng cần tham khảo lại.

Chúng tôi cũng nêu nhiều chính sách phân phối hàng hỗ trợ, ưu đãi. Tuy nhiên mình không đưa ra bàn cân so sánh. Ví dụ Việt Nam, Singapore hay Campuchia. Thủ tướng 1 đất nước như Campuchia cũng dùng mạng xã hội để lắng nghe 1 số phản hồi rất tích cực của doanh nghiệp, người dân.

Xin mời ông Nguyễn Thế Trung, Giám đốc Công ty DTT trả lời câu hỏi này.

Ông Nguyễn Thế Trung - Giám đốc Công ty DTT

Ông Nguyễn Thế Trung – Giám đốc Công ty DTT

Ông Nguyễn Thế Trung: Chúng ta chuyển sang GĐ mới là nền kinh tế số, nền công nghiệp lần thứ 4 trong đó có nội hàm quan trọng nhất là 1 nền kinh tế mới có tài sản mới là tài sản số. Tài sản mới này đi kèm trọn vẹn luật lệ chính sách phân phối hàng mới để xác định rằng thế nào là tài sản số và ai được có tài sản số này? Điều này cũng kiến tạo ra 1 số GĐ mới của nền kinh tế số. Theo tôi, nếu không có khái niệm tài sản số chúng ta sẽ không làm được gì cả. Ý tưởng tôi muốn truyền đạt ở đó là nếu chúng ta hình dung có môi trường mới trong đó có rất tài sản số thì việc giao tài sản này cho ai? Ai là người có quyền sử dụng nó sẽ là 1 vấn đề rất lớn mà Luật CNTT phải 1 sốh tân, phải vượt lên 1 số vấn đề về công nghệ và viễn thông đã từng có.

Từ góc độ kiến tạo, dữ liệu cực kỳ quan trọng. Như anh Quang Ngọc FPT có nói, Chính phủ là nhà đặt hàng cho 1 số doanh nghiệp CNTT. Tuy nhiên, theo tôi đó lại chưa chắc đã quan trọng bằng số liệu, 1 số dữ liệu CNTT. Sự đầu tư của Nhà nước quyến rũ nhưng chưa hấp dẫn thực sự. nếu chúng ta mở ra câu chuyện số vừa là tài sản số, kiến tạo số rất quan trọng. nếu Chính phủ quy định rõ 1 số dữ liệu của mình. Dữ liệu nào là mật, dữ liệu nào có thể mở phân phối thì doanh nghiệp, thậm chí là người dân có thể khai thác và tạo ra rất nhiều lợi ích khác cho đất nước. Chẳng hạn, trong lĩnh vực du lịch thông minh, 1 số doanh nghiệp có dữ liệu về du lịch thì có năng suất tăng gấp 3 lần 1 số doanh nghiệp khác kể cả sử dụng nền móng công nghệ. Trong 1 số lĩnh vực khác cũng vậy. Nếu chúng ta tính đến sự 1 sốh tân trong 1 số giai đoạn thứ hai thì cần đi đầu trong việc này.

Thực tế, trong GĐ số, doanh nghiệp rất cần 1 số cơ quan nhà nước công khai minh bạch trong chính sách phân phối hàng và triển khai 1 số chính sách phân phối hàng này. Việc công khai tài liệu là để có thể nhìn thấy 1 số bất cập, Nếu cứ để mờ ảo thế này thì chúng ta có thể đánh mất phân khúc vào tay doanh nghiệp nước ngoài. Dù là chúng ta có bao nhiêu Nghị quyết, chính sách phân phối hàng đi nữa thì cũng quay về mua sản phẩm của họ. Do đó, theo tôi, trong quản lý cần minh bạch 1 số chỉ số. Chúng ta quyết liệt dành bao nhiêu phần trăm cho doanh nghiệp Việt Nam. Đặt ra chỉ tiêu cụ thể, 1 số chỉ số và 1 số doanh nghiệp Việt Nam có thể theo dõi. Đồng thời, chúng ta phải có chính sách phân phối hàng bảo vệ cho doanh nghiệp Việt Nam, nhân rộng 1 số mô hình thành công. Việc Bộ TT&TT có thể làm tốt Bên cạnh đó là kiến tạo ra kinh tế số cho dân CNTT bằng câu chuyện về dữ liệu công. Hiện nay có xu hướng chính quyền số dữ liệu mở. Có thể đưa ra quy hoạch sử dụng dữ liệu của chính phủ. Nếu làm được điều đó nó sẽ tạo ra hàng loạt 1 số mô hình kinh doanh mới, 1 số tiến hành tạo ra giá trị mới mà không cần đến nguồn chi ngân sách. Bộ TT&TT nên dẫn đầu về việc đo đạc, kiểm tra dữ liệu về số hóa. Sau đó có các quy định, quy hoạch để 1 số doanh nghiệp, cá nhân có thể sử dụng, khai thác nguồn dữ liệu này trong GĐ tới.

Chuyển sang lĩnh vực công nghiệp CNTT, GĐ này có phân tích diện tích phát triển ngành công nghiệp CNTT còn nhỏ, năng lực làm việc và khả năng tranh đua trong khu vực và địa cầu chưa cao. Với VNPT, công nghiệp CNTT được coi là 1 lĩnh vực trụ cột.

Xin hỏi ông Đỗ Vũ Anh, Thành viên HĐTV Tập đoàn VNPT, ông phân tích như thế nào về công nghiệp CNTT Việt Nam và thời gian tới chúng ta cần tập trung vào nhóm lĩnh vực nào để có thể thúc đẩy công nghiệp CNTT phát triển?

Ông Đỗ Vũ Anh, Thành viên Hội đồng Thành viên VNPT

Ông Đỗ Vũ Anh, Thành viên Hội đồng Thành viên VNPT

Ông Đỗ Vũ Anh: Tham dự tọa đàm, VNPT có đến nhiều ý kiến đóng góp. Trước khi đi vào câu hỏi của Ban tổ chức, chúng tôi muốn góp ý về 3 vấn đề: Thứ nhất, tôi nghĩ rằng 1 số Nghị định, văn bản, chính sách phân phối hàng rất quan trọng, giúp định hướng cho 1 số doanh nghiệp, nhất là có 1 số doanh nghiệp nhà nước, giúp doanh nghiệp có thể nắm bắt được 1 số thời cơ, thách thức; lên được kế hoạch để có thể sẵn sàng cung cấp được các yêu cầu của phân khúc. Thực chất, 1 số văn bản, chính sách phân phối hàng của Nhà nước đặt ra 1 con các con phố cho 1 số doanh nghiệp thấy thời cơ cho đơn vị mình. Hơn thế, VNPT đang triển khai rất nhiều dự án về chính quyền điện tử, cổng tài liệu hành chính 1 cửa… Trong quá trình thực hiện 1 số dự án phục vụ cho 1 số cấp chính quyền, chúng tôi thấy rằng nhiều tỉnh làm rất tốt, nhẹ nhàng nhưng nhiều tỉnh triển khai có vấn đề.

Tôi muốn nêu 1 số bất cập như: Cổng tài liệu hành chính 1 cửa có 4 cấp độ, xuống đến 1 số cấp độ phía dưới gặp nhiều gặp khó. Chẳng hạn như về quản lý đất, liên quan đến sổ đỏ và nhiều vấn đề khác… Sổ đỏ có 3 người, 1 trong 3 người đi vắng, rất khó để giải quyết. Đây là thực ở, cũng không phải là không giải quyết được nhưng không giải quyết nhanh như doanh nghiệp kỳ vọng. Vấn đề nữa liên quan đến 1 số Luật, chúng tôi cho rằng cần có kế hoạch để đồng bộ hóa 1 số Luật của mình khi có sự 1 sốh tân. Chẳng hạn như cụ thể hóa tối đa theo 1 số quy chế giải đáp. Ví dụ như ở Điều 48 về chính sách phân phối hàng phát triển công nghiệp CNTT có nêu: “Nhà nước có chính sách phân phối hàng ưu đãi, ưu tiên đầu tư phát triển công nghiệp CNTT, đặc trưng chú trọng công nghiệp phần mềm và công nghiệp nội dung để trở thành 1 ngành kinh tế trung tâm trong nền kinh tế quốc dân”, nhưng tới năm 2016, Chính phủ mới ban hành Nghị quyết 41 của Chính phủ về chính sách phân phối hàng ưu đãi thuế thúc đẩy phát triển và tiến hành CNTT. Như vậy, là từ Luật cho đến Nghị định giải đáp cũng có độ trễ nhất định.

Hay như việc đồng bộ tài liệu giữa 1 số Luật, xác định trọng tâm nội dung của từng Luật. Ví dụ như Điều 74 của Luật CNTT quy định 1 số nội dung khuyến khích hỗ trợ người tàn tật có ghi “Nhà nước có chính sách phân phối hàng ưu đãi về thuế, tín dụng và ưu đãi khác cho làm việc: Nghiên cứu – phát triển 1 số công cụ và tiến hành nhằm nâng cao khả năng của người tàn tật trong việc truy nhập, sử dụng 1 số nguồn tài liệu và tri thức thông qua sử dụng máy tính và cơ sở hạ tầng tài liệu; Sản xuất, cung cấp công nghệ, thiết bị, dịch vụ, tiến hành CNTT và nội dung tài liệu số cung cấp nhu cầu đặc trưng của người tàn tật”. Bên cạnh đó, Luật Người khuyết tật năm 2010 cũng có quy định “Nhà nước có chính sách phân phối hàng miễn, giảm thuế cho cơ sở sản xuất công cụ chỉnh hình, phương tiện, thiết bị bình phục công dụng, trợ giúp sinh hoạt, học tập và lao động cho người khuyết tật”. Tuy nhiên, triển khai thực ở các quy định này chưa có giải đáp. Do đó, có các Luật ban hành ra chúng tôi cho rằng cần sớm có giải đáp để quy định của Luật sớm đi vào cuộc sống, đạt hiệu quả hơn.

Ông Trần Hữu Quyền, Tổng Giám đốc VNPT Tech cũng tham dự thảo luận về sự phân biệt đối xử giữa 1 số doanh nghiệp trong nước và nước ngoài.

Ông Trần Hữu Quyền, Tổng Giám đốc VNPT Tech

Ông Trần Hữu Quyền, Tổng Giám đốc VNPT Tech

Ông Trần Hữu Quyền: Tôi xin chia sẻ về sự phân biệt đối xử giữa 1 số doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước. Doanh nghiệp trong nước đang bị ngược đãi so có FDI, đặc trưng là về CNTT. Chúng tôi chưa dám xin được ưu đãi hơn và chỉ xin được bình đẳng như FDI. Còn giữa doanh nghiệp tư nhân và nhà nước: chúng tôi cũng xin doanh nghiệp nhà nước được đối xử như doanh nghiệp tư nhân. Doanh nghiệp tư nhân chỉ làm việc theo Luật Doanh nghiệp thì có doanh nghiệp nhà nước ngoài Luật Doanh nghiệp còn có 1 số chế tài khác. Về công nghiệp CNTT, như anh Ngọc FPT đi làm từ trước năm 1997, mấy năm gần đó mới có doanh thu cân bằng được có 1 số lĩnh vực khác của FPT. Qua đó cho thấy làm công nghiệp rất vất vả, làm công nghiệp phần cứng còn vất vả Bên cạnh đó vì gồm cả thiết bị, firmware.

Về nhận thức xã hội, trong sự kiện hôm nay có nhiều anh chị trong giới truyền thông xin định hướng giúp “như thế nào là 1 sản phẩm có đóng góp trong nước”. Sản phẩm của ai thì đó là ý tưởng của người đó, là sản phẩm được người đó phát triển ra… Nhưng điều đó thì truyền thông phải định hướng được chẳng thể nhìn sản phẩm đó lấy linh kiện của ai. Như GĐ này, trong nước mình công nghệ phân phối dẫn chưa có mà đòi hỏi phải dùng công nghệ phân phối dẫn của Việt Nam thì ở đâu ra. Nếu 1 số anh chị trong giới truyền thông có thể định hướng được dư luận, nâng cao nhận thức của xã hội về việc như thế nào là sản phẩm Việt Nam thì cũng bớt tủi cho các đơn vị như Bkav, VNPT. Dù chúng tôi làm ra 1 số sản phẩm nhỏ thôi nhưng rất tủi hổ khi bị người này người khác nói có phải từ nơi khác đưa sang không. Nếu bị vùi dập thì nền công nghiệp nhìn chung, công nghiệp CNTT Việt Nam sẽ chết yểu sớm.

Ông Bùi Quang Ngọc, Tổng Giám đốc FPT tiếp tục chia sẻ: Trong lĩnh phần mềm dịch vụ FPT tham dự nhiều, doanh thu từ phần mềm của FPT vượt toàn bộ toàn bộ lĩnh vực kinh doanh khác, phần mềm dịch vụ là ngành cần nguồn nhân lực cao, nhưng chính sách phân phối hàng đào tạo nhân lực cho ngành đang có vấn đề. Chương trình đào tạo trong 1 số trường thiếu công nghệ mới và thiếu kỹ năng làm việc công nghiệp, quản trị dự án. Mỗi năm FPT thiếu 3.000 – 4.000 nhân viên mới, nhưng Đại học Bách khoa chỉ cho ra trường dao động 300 – 400 người do Bộ Giáo dục & Đào tạo chỉ cho đào tạo bởi thế. Do đó, Bộ Giáo dục & Đào tạo cần bỏ khái niệm Quota đi, để cho 1 số trường đào tạo theo nhu cầu phân khúc. Về yêu cầu cho phép hoán đổi Bằng 2 cho các người có bằng tốt nghiệp đại học ngành khác nhưng đi học về CNTT, Bộ Giáo dục & Đào tạo nghe cũng gật gù nhưng chưa có động thái gì. Nguồn nhân lực cho công nghiệp phần mềm cực kỳ thiếu, cho Internet of Things càng thiếu nhiều hơn vì cơ sở của IoT là trí tuệ nhân tạo đòi hỏi các người giỏi toán, có trình độ trí tuệ cao để tham dự làm. Để ngành dịch vụ phần mềm phát triển cần có chính sách phân phối hàng tối đa hóa toàn bộ chuyển nhượng điện tử, ở đâu có điện tử được bỏ hết pháp lý đi, hạ tầng chi trả đã có cần bỏ bớt tiền mặt đi. Nhà nước phải thể chế hóa để ép buộc 1 số đơn vị phải tiến hành CNTT, thậm chí cần có luật ép buộc cho cả lĩnh vực tư nhân, quy định 1 số trung tâm y tế phải dùng chung nhau hồ sơ điện tử khi đó ép buộc 1 số trung tâm y tế phải liên thông nhau.

Khi giao dự án CNTT nên chăng cần tìm 1 sốh ưu tiên cho Việt Nam, khuyến khích 1 số nhà thầu Việt Nam tham dự 1 số dự án của nhà nước. Hàn Quốc trong 1 thời gian dài 1 số nhà thầu nước ngoài không vào được và Hàn Quốc đã trở thành 1 cường quốc về CNTT. Tôi cũng kiến nghị nhà nước có 1 sốh thức hạn chế sự trợ giá không lành mạnh, 1 số doanh nghiệp có hiện tượng trợ giá không lành mạnh, ví dụ cung cấp các con phố truyền trong 1 dự án, hoặc có các lời chào mời Bộ X làm có tôi sẽ được tài trợ cho vài nghìn tỷ lấy từ ngành kinh doanh khác bù vào. Lĩnh vực hạn chế tranh đua không lành mạnh ở ta chưa được tìm hiểu đầy đủ. Ở Mỹ, châu Âu 1 số doanh nghiệp như Google hay Faceboook bị sờ gáy liên tục, nếu sai bị đè ra phạt ngay hàng mấy trăm triệu USD. Còn ở Việt Nam người đi đầu trong 1 số tài trợ không lành mạnh chính là doanh nghiệp nhà nước.

Ông Nguyễn Trung Chính, Chủ tịch CMC bổ sung thêm ý kiến của ông Bùi Quang Ngọc: “Tôi yêu cầu cấm luôn hành vi trợ giá không lành mạnh, không phải là hạn chế”. Luật Cạnh tranh đã có quy định rõ về hành vi tranh đua không lành mạnh sẽ bị nghiêm cấm, bởi thế trong lĩnh vực CNTT các gì vi phạm luật phải cấm. CMC nhiều lần kiến nghị Bộ TT&TT về giá thành dịch vụ cáp quang, có doanh nghiệp liên tục phân phối dưới giá thành đã yêu cầu Bộ phải cấm. Mặc dù có thể họ lách dưới nhiều hình thức, câu chuyện bù chéo hay không tôi không quan tâm nhưng nếu 1 doanh nghiệp phân phối dưới giá thành nhà nước phải cấm. Trong khi, có nhiều dịch vụ mà doanh nghiệp nhà nước độc quyền thì lại đang yêu cầu tăng giá, ví dụ vấn đề chia sẻ lại hạ tầng đang bị hiện trạng mỗi địa phương xử 1 kiểu. Hà Nội 1 kiểu, Đà Nẵng 1 kiểu, TP.HCM 1 kiểu, Hà Nội hiện là nơi có giá dễ chịu nhất. Do đó nhà nước cần quản lý giá dịch vụ CNTT, phối hợp có Bộ Công Thương để ngăn chặn tranh đua không lành mạnh, hỗ trợ 1 số doanh nghiệp nhỏ, mới ra phân khúc. Nếu không các doanh nghiệp còn non nớt vừa ra phân khúc đã bị 1 số ông lớn đánh bại, làm sao phát triển được.

Ông Lưu Hoàng Long: Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp điện tử Việt Nam

Ông Lưu Hoàng Long: Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp điện tử Việt Nam

Theo ông Lưu Hoàng Long, Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp điện tử Việt Nam, trong lĩnh vực sản xuất thiết bị (phần cứng) 1 số doanh nghiệp điện tử sản xuất là chính. Chúng tôi hoàn toàn có trình độ công nghệ để có thể sản xuất thiết bị. Vấn đề chỉ là phân khúc. Nếu 1 số anh ưu tiên sản xuất thiết bị điện tử, CNTT gì thì cũng phải ra bằng chính sách phân phối hàng từ đó, khuyến khích tiêu thụ và bảo vệ phân khúc tiêu thụ đó. Thế nhưng GĐ này, đa phần lại không có phân khúc tiêu thụ cho 1 số thiết bị điện tử, CNTT. Về vấn đề thuế, hôm nay tôi tham dự 1 hội nghị trong đó có nội dung liên quan đến Nghị định 134 của Chính phủ trước kia chúng ta miễn thuế cho 1 số sản phẩm gia công trong nước và xuất khẩu, nhưng gần đó chúng ta chỉ miễn thuế cho 1 số doanh nghiệp xuất khẩu trực tiếp, còn doanh nghiệp xuất khẩu gián tiếp thì không được ưu đãi. Do đó, 1 số doanh nghiệp sản xuất phụ trợ lại hoàn toàn không được miễn thuế. Như vậy là chúng ta khuyến khích nhập khẩu linh kiện chứ không phải khuyến khích sản xuất trong nước.

Còn 1 vấn đề nữa trong quản lý nhà nước nên chăng cần quan tâm, chú trọng hơn và có 1 số chính sách phân phối hàng cho lĩnh vực sản xuất điện tử bởi GĐ này có rất ít 1 số văn bản quản lý Nhà nước về lĩnh vực này dù đó là lĩnh vực quan trọng và có lại nguồn thu khá lớn. Theo thống kê, kim ngạch xuất khẩu về lĩnh vực điện tử tính cả FDI năm 2017 có thể lên đến trên 50 tỷ USD. Đóng góp GDP không hề nhỏ. Ngoài kim ngạch xuất khẩu lớn thì lĩnh vực sản xuất điện tử cũng lôi kéo dao động 60.000 lao động, nhiều nhất trong 1 số ngành sản xuất công nghiệp GĐ này.

Ông Nguyễn Thế Tân, Tổng Giám đốc VCCorp

Ông Nguyễn Thế Tân, Tổng Giám đốc VCCorp

Trao đổi về bất cập trong lĩnh vực nội dung số ở Việt Nam, ông Nguyễn Thế Tân, Tổng Giám đốc VCCorp cho rằng: tổng doanh thu của 1 số doanh nghiệp vào dao động 8.000 – 10.000 tỷ đồng mỗi năm ở phân khúc Việt Nam. Nếu tính doanh nghiệp “giả” Việt Nam (như doanh nghiệp Trung Quốc vào Việt Nam làm) thì lên đến 15.000 – 20.000 tỷ đồng mỗi năm. Trong đó có nguồn thu đến từ quảng cáo và game, phim đang lên. Ngành nội dung số có đặc điểm quan trọng là tranh đua có doanh nghiệp xuyên biên giới nhiều. Như Facebook họ có tiến hành từ Mỹ, được phân phối ở Việt Nam. Như vậy là đánh nhau ngay trên sân nhà, doanh nghiệp Việt Nam đang mất dần sân nhà. Thua đến mức chết thì chưa phải, mà vẫn gượng được. Nhưng nếu tiếp tục diễn biến như GĐ này thì mất hết.

Thua trên sân nhà căn bản lý do từ đâu? Chúng tôi gọi đó là cơ chế bảo hộ ngược. Thay vì hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam thì doanh nghiệp Việt Nam lại gặp khó hơn, dù dĩ nhiên đó không phải là ý muốn của nhà quản lý. Ví dụ về cấp phép. Nếu lẽ thường doanh nghiệp Việt Nam phải làm theo quy định, sai thì phạt, rồi thanh kiểm tra. Đó là những việc phải làm. Nhưng ngược lại, doanh nghiệp nước ngoài lại không cần bởi thế. Như Facebook không phải kiểm duyệt, giải trình khi có nội dung phản động… Ngành nội dung số là ngành cấp phép. Nếu cấp phép làm con cá thì chỉ được phép làm con cá. Nếu làm trang tin điện tử thì không làm mạng xã hội. Đã làm nhạc trực tuyến thì không được làm tài liệu tổng hợp. Nhưng trong ngành Internet thì có tiến hành như Facebook không biết gọi là gì khi vừa là mạng xã hội, vừa đọc báo hay livestream… Còn doanh nghiệp Việt Nam nếu làm sai giấy phép thì phạt vài chục triệu, nếu sai 3 lần thì đóng cửa. Không doanh nghiệp nào dám bỏ ra 10 triệu USD đầu tư vào cái không có giấy phép. Như VCCorp, ném ra 100 tỷ để làm thì ngày mai không biết có tương lai hay không, hay lại thành vi phạm quy định đi tù. Dù đó không phải là ý định của nhà quản lý mà lại là bảo hộ ngược, trói tay doanh nghiệp.

Bảo hộ ngược thứ hai là liên quan đến thuế. Daonh nghiệp Việt Nam đóng toàn bộ 1 số loại thuế. Trong khi doanh nghiệp xuyên biên giới lại không: không thuế lương cá nhân VAT, không thuế lương doanh nghiệp, không bảo hiểm… Việc phải đóng nhiều loại thuế khiến chúng tôi khi phân phối 1 mặt hàng lại bị đội giá lên vài chục %. Những bất lợi đó càng càng ngày càng khiến doanh nghiệp Việt Nam teo tóp. Đó là các vấn đề thực ở doanh nghiệp Việt Nam đang gặp phải. Hiện phân khúc Việt Nam có diện tích dao động 1 tỷ USD. Đó là dịch vụ xuyên biên giới doanh nghiệp nước ngoài cung cấp ở Việt Nam, còn doanh nghiệp Việt Nam nếu có dịch vụ tốt thì cung cấp ra nước ngoài như Flappy Bird của Nguyễn Hà Đông. Hay doanh nghiệp nhỏ lẻ có doanh thu vài trăm tỷ đồng mỗi năm nhưng họ phải ẩn mình đi. Tại sao họ phải trốn? Bởi có hiện trạng pháp luật GĐ này thì ẩn mình đi cho đỡ rắc rối. Tiền chuyển về tài khoản nước ngoài dù sống ở Việt Nam, người Việt Nam phân phối ra nước ngoài. Quy mô của phân khúc này trong dao động 5 năm đạt 1 tỷ USD, trong 20 năm là 5 tỷ USD thì 1 tỷ USD và 5 tỷ USD này ý nghĩa thế nào? Như ngành dệt may, nếu xuất khẩu 5 tỷ USD thì Việt Nam thu về 10%, dao động 500 triệu USD. Còn 1 tỷ USD xuất khẩu nội dung số ra nước ngoài thì thu về dao động 700 triệu USD, trừ ra 1 số giá thành thì dao động 500 triệu USD. Như vậy, xuất khẩu 1 tỷ USD của nội dung số thì giá trị có về cho Việt Nam tương xứng có 5 tỷ USD của dệt may. Cho nên tôi mạnh dạn dự đoán trong 5-10 năm tới, nếu ngành nội dung số phát triển thì chỉ đứng sau du lịch, còn lại vượt qua dệt may, xăng dầu… về giá trị kinh tế có lại cho Việt Nam. Cùng đó ước chừng có 1 triệu lao động.

Ngành này phát triển từ chính doanh nghiệp trên sân nhà của Việt Nam. Còn nếu họ bị lấn sân thì sẽ không còn hy vọng. Tất cả 1 số doanh nghiệp nội dung số Việt Nam đa số đi lên từ tay không, dùng nguồn lực duy nhất là con người. Tuyển dụng về CNTT, nội dung, người kiến trúc… rồi kinh doanh. Vốn chưa bao giờ xin của Nhà nước hoặc tự làm hoặc gọi đầu tư từ nước ngoài. Nhiều anh em nội dung số phát biểu nhiều lần không hy vọng được ưu đãi, chỉ mong gỡ 1 số bảo hộ ngược. Theo qui định cái gì không thu của doanh nghiệp nước ngoài thì đừng thu của Việt Nam. Bộ TT&TT nên đề xuất có nhà nước gọi ngành nội dung số là ngành kinh tế trung tâm, khi có tư tưởng bởi thế thì sẽ biết được là làm ưu đãi gì. Điều đáng buồn là quá ít người hiểu ngành nội dung số là gì, 1 số chính sách phân phối hàng ưu đãi thì như đứa con bị bỏ rơi. Nếu xin chứng chỉ công nghệ cao thì xin Bộ KH&CN. Còn xin chứng chỉ tôi là doanh nghiệp nội dung số có lợi cho quốc gia cần ưu đãi thì không biết gặp ai. Theo tôi, Bộ TT&TT nên đứng ra làm, coi là ngành trung tâm và phát triển. Ngành nội dung số, ưu đãi cần tập trung vào đâu? Tiền không cần vì doanh nghiệp tự kiếm từ phân khúc. Đó là ưu đãi về con người, là nhân lực CNTT. Như VCCorp có 1.700 người thì 60-70% còn lại là làm nội dung, sản phẩm, kiến trúc, quảng cáo… Cần có ưu đãi cho họ.

Ông Nguyễn Thanh Hưng, Giám đốc VTC Intecom

Ông Nguyễn Thanh Hưng, Giám đốc VTC Intecom

Ông Nguyễn Thanh Hưng, Giám đốc VTC Intecom: Luật CNTT có nhiều quy định vĩ mô quá trong khi doanh nghiệp cần các điều thiết thực hơn. Quy mô của ngành nội dung số càng ngày càng lớn, 1 sốh đó 10 năm doanh thu của nội dung số từ dịch vụ giá trị tăng lên đã đạt 3.000 – 4.000 tỷ đồng, đến nay diện tích càng ngày càng lớn, từ truyền hình, 1 số dịch vụ trên online, sự dịch chuyển sang ngành quảng cáo trực tuyến, 1 số nội dung trên mạng xã hội… Về mặt chính sách phân phối hàng, đang có 1 số hạn chế sự phát triển của ngành nội dung số trong nước, nhà nước có quy định quản lý nội dung số trong nước rất chặt. Việt Nam không phát triển được mạng xã hội trong nước vì bị quản lý nội dung tài liệu rất nghiêm ngặt, trong khi các nội dung ấy nếu được đưa lên Facebook thì không bị ai hỏi đến. Ngành game online nhà nước quy định Game G1 phải phê duyệt nội dung kịch bản, có 1 số thủ tục hành chính pháp lý rất nhiều, tuy nhiên khi gửi hồ sơ xin phép thì 1 số anh phê duyệt không chơi game nên làm sao đọc được. Đối có game mobile trên Store 1 ngày ra bao nhiêu game mới không sao kiểm soát được. Trong khi chỉ có doanh nghiệp Việt Nam bị quản lý chặt, dễ bị sờ gáy không sao phát triển được.

Một hạn chế khác, ngành nội dung số đang chuyển dịch mạnh từ PC sang mobile, nhưng chính sách phân phối hàng quản lý vẫn chưa thích hợp, quy định chỉ xoay quanh 1 số quy định mà chỉ tiến hành cho phân khúc Việt Nam. Nội dung số trên mobile đang bị cảnh “1 cổ hai tròng”, 1 là phải tuân thủ theo quy định của pháp luật Việt Nam, hai là phải tuân theo 1 số quy định của 1 số nhà cung cấp nền móng, bởi thế doanh nghiệp phải tìm 1 sốh cung cấp 1 số yêu cầu của 1 số Store để có thể đưa game lên được. Nhưng GĐ này 1 số doanh nghiệp Việt gặp gặp khó khi chi trả làm mất khả năng tranh đua của doanh nghiệp Việt. Chính vì có nhiều hạn chế về chính sách phân phối hàng nên 1 số doanh nghiệp nội dung số Việt không còn mặn mà đầu tư vào công nghệ nội dung số, muốn phát triển ngành này phải đầu tư tương đối dài hạn, 1 nền móng tốt cần được đầu tư từ 3 – 5 năm nên ngành nội dung số Việt đang mất dần niềm tin chỉ còn xu hướng khai thác dịch vụ ngắn hạn, không đầu tư dài hạn.

Luật CNTT có quy định ưu đãi cho sản phẩm công nghệ trung tâm, doanh nghiệp nội dung số cung cấp nhiều dịch vụ cho hàng triệu người dùng như VTC có studio sản xuất game cung cấp cho phân khúc Mỹ, châu Âu nhưng thực ở chưa có chính sách phân phối hàng khuyến khích cho các làm việc đó. Tôi cũng đưa ra 1 số đề xuất có Bộ TT&TT trong quá trình thi công chính sách phân phối hàng cần có chỉ số cụ thể, đừng đưa luật chung chung, yêu cầu ngành thuế ưu đãi nhưng chả ai triển khai, chả ai ưu đãi, bởi thế luật phải rất cụ thể.

Bộ TT&TT cần tìm hiểu chính sách phân phối hàng yêu cầu 1 số doanh nghiệp nước ngoài khi vào Việt Nam phải tuân thủ pháp luật Việt Nam. Kinh tế số là nền kinh tế không có biên giới, cần có chế tài đối có 1 số doanh nghiệp toàn cầu như Google, Facebook khi họ có doanh thu hàng nghìn tỷ đồng từ phân khúc Việt Nam nhưng không đóng thuế. Trong việc hợp tác giữa doanh nghiệp Việt có doanh nghiệp cung cấp nền móng Bộ không thảo luận giúp có doanh nghiệp nước ngoài là 1 thiếu sót, thiệt thòi cho doanh nghiệp Việt. Đề nghị Bộ đơn giản hóa thủ tục hành chính, đúng có mục tiêu chính phủ kiến tạo, cụ thể cắt giảm cấp phép trong 1 số lĩnh vực do Bộ quản lý, cắt giảm thủ tục cấp phép game. Như bí kíp Trung Quốc chẳng hạn, Trung Quốc có 1 sốh thức kỹ thuật có chế tài để doanh nghiệp nước ngoài không vào được Trung Quốc, do vậy chúng ta cũng có 1 sốh thức chặt hơn có 1 số doanh nghiệp Trung Quốc, đó chính là vấn đề an ninh quốc gia.

Ông Nhan Thế Luân, đại diện Nhaccuatui

Ông Nhan Thế Luân, đại diện Nhaccuatui

Vẫn liên quan đến việc quản lý Nội dung số, đặc trưng là vấn đề bình đẳng giữa 1 số doanh nghiệp xuyên biên giới, ông Nhan Thế Luân, đại diện Nhaccuatui nhận định rằng: 1 số doanh nghiệp lớn nhất trên địa cầu GĐ này như Google, Faceboo, Amazon… đều là 1 số doanh nghiệp phát triển dịch vụ trên nền móng Internet. Các doanh nghiệp phát triển mạnh bởi ngành này đặc biệt không giới hạn về địa điểm địa lý, không gian, công nghệ nên có thể phát triển nhanh. Khi bước ra địa cầu, chúng ta có thể tiếp cận 4 tỷ dân toàn địa cầu. Đó là lý do vì nguyên nhân gì mà 1 số doanh nghiệp Internet lại lớn như thế. Ở Việt Nam, chúng ta hoàn toàn có khả năng phát triển mạnh hơn GĐ này. Như anh Nguyễn Thế Tân nói, 1 số doanh nghiệp nhỏ như chúng tôi đang gặp 1 vấn đề đó là phải tranh đua có 1 số doanh nghiệp nước ngoài lớn vừa bị “trói buộc lại trong góc tường”. Chúng ta có thể hình dung, trong số 300 website được cấp phép GĐ này thì tổng traffic chỉ chiếm dao động trên 20% so có 1 số ông lớn nước ngoài như Google, YouTube, Facebook dù họ không có giấy phép ở phân khúc Việt Nam.

Một số bí kíp đã chia sẻ lại là 1 số doanh nghiệp có xin giấy phép làm mạng xã hội nhưng chưa kịp làm đã chết trước khi Facebook lớn mạnh như ngày hôm nay. Nguyên nhân là khi quá tuân thủ pháp luật thì vô hình chung, 1 số doanh nghiệp nước ngoài có điều kiện thuận lợi hơn để phát triển. Những quy định quá chặt của chúng ta càng càng ngày càng khiến cho 1 số doanh nghiệp Việt Nam bị teo tóp đi. Do đó, mong muốn 1 số cơ quan quản lý Nhà nước có thể tạo sự công bằng. Nhà nước đưa ra chính sách phân phối hàng công bằng có 1 số doanh nghiệp nước ngoài. Nghĩa là 1 số doanh nghiệp nước ngoài cũng cần phải có giấy phép hoặc chế tài mạnh mẽ nào đó để 1 số giấy phép có và thực sự hiệu quả giữa hai bên. Một 1 sốh công bằng hơn, chúng ta thường nói rằng vì nguyên nhân gì mà không ủng hộ hàng Việt? Thì từ trong chính bản thân mỗi chúng ta lợi ích cá nhân rất nhiều nên 1 số doanh nghiệp Việt Nam “tàn sát” lẫn nhau, dẫn đến hậu quả này. Chúng ta góp phần đẩy phân khúc cho nước ngoài nhiều và 1 số doanh nghiệp trong nước chưa bảo vệ lẫn nhau.

Về ưu đãi, nhất là thuế, thật ra Việt Nam có thời cơ lớn trong hút vốn đầu tư. Nhưng để doanh nghiệp Việt Nam nhận vài chục triệu USD là rất hiếm. Trong khi đó, 1 số doanh nghiệp ở 1 số quốc gia khác như Singapore, Indonesia có thể nhận đươc hàng tỷ USD tiền đầu tư. Nguyên nhân là chính sách phân phối hàng của 1 số nước được hỗ trợ rất nhiều cho 1 số doanh nghiệp. Đặc biệt là chính sách phân phối hàng thuế. Do đó, đề xuất của tôi là nếu coi đó là ngành kinh tế trung tâm thì hoàn toàn có thể sử dụng 1 số chính sách phân phối hàng về thuế để chẳng các giữ được 1 số nguồn thu trong nước mà còn hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.

Ông Nguyễn Xuân Cường, Phó Chủ tịch Hội Truyền thông số

Ông Nguyễn Xuân Cường, Phó Chủ tịch Hội Truyền thông số

Theo ông Nguyễn Xuân Cường, Phó Chủ tịch Hội Truyền thông số, ở khâu hành động trong mục tiêu (Kiến tạo – Hành động – Liêm chính) có khá nhiều vấn đề. Luật CNTT có quy định chung, có điều lại khá chi tiết, quy định của pháp luật khi triển khai quả thực khiến doanh nghiệp lúng túng, làm quá trình hành động chậm. Luật CNTT nói về 1 số dịch vụ CNTT liên quan đến lĩnh vực y tế, giáo dục, nông nghiệp… 1 số Bộ chủ quản ngành này phải có văn bản giải đáp, nhưng thực ở chưa có văn bản giải đáp được ban hành. Cụ thể khi triển khai nông nghiệp thông minh, 1 doanh nghiệp nhỏ của Hội muốn làm và ký 1 hợp đồng có 1 đơn vị làm nông nghiệp thông minh, triển khai dịch vụ bay flycam để phun thuốc. Khi ký kết hợp đồng, nếu chiểu theo văn bản quy định không thấy có gì vướng mắc, nhưng khi thực hiện môi trường xung quanh xuất hiện 1 văn bản của Bộ Quốc phòng yêu cầu phải xin phép khi bay flycam, doanh nghiệp đó làm rất nhiều thủ tục hành chính pháp lý, từ xin phép giấy nhập khẩu thiết bị đến giấy phép bay, bay ở khu vực nào cánh đồng nào cũng phải xin phép, đó là 1 tình huống không liên quan trong quy định của Luật nhưng bỗng dưng xuất hiện.

Các doanh nghiệp truyền thông và nội dung số đang mong muốn được bình đẳng, bình đẳng giữa 1 số loại hình doanh nghiệp trong nước, bình đẳng giữa 1 số doanh nghiệp nhỏ – vừa – lớn, giữa doanh nghiệp tư nhân có nhà nước, giữa doanh nghiệp trong nước có 1 số doanh nghiệp nước ngoài, doanh nghiệp xuyên biên giới, FDI. Luật khi sinh ra phải làm được điều đó, không phải luật sinh ra bảo hộ ngược cho 1 số doanh nghiệp nước ngoài bởi thế cần hiệu chỉnh lại, có các quy định có doanh nghiệp trong nước phải đi theo hướng không cấp phép mà chuyển sang hậu kiểm, cắt giảm 1 số thủ tục hành chính. Cụ thể, nội dung số đa số là doanh nghiệp khởi nghiệp chủ yếu dựa vào nguồn lực và nội lực của mình là chính nhưng 1 số doanh nghiệp khởi nghiệp hiện bị đối xử bất bình đẳng ngay trong nước.

Ví dụ, doanh nghiệp CP bị bất bình đẳng có 1 số nhà mạng, chính bản thân 1 số nhà mạng thay vì làm hạ tầng làm nền móng của 1 số nền kinh tế khác, chính bản thân doanh nghiệp tập trung chưa cao, xã hội chưa thực sự được hưởng từ 1 số dịch vụ do 1 số doanh nghiệp này cung cấp. Nhưng 1 số nhà mạng cũng nuôi dưỡng 1 số doanh nghiệp nội dung số, chúng tôi đã có số liệu chứng minh có hiện tượng bù chéo thông qua báo cáo tài chính của 1 số doanh nghiệp này, bù chéo bằng 1 sốh thức kỹ thuật thông qua hệ thống billing tạo ra tranh đua không lành mạnh. Từ đó chính sách phân phối hàng của nhà mạng có doanh nghiệp nội dung số không ổn định, họ tự do điều chỉnh theo hệ thống như bốc thuốc. Ví dụ có ngày hệ thống billing bị trục trặc, họ tự lấy số liệu nào đó bù vào, doanh nghiệp nội dung bị thiệt phải chịu. Doanh nghiệp nội dung số trực thuộc nhà mạng tạo ra bức tranh méo mó cho ngành nội dung số, sự phân chia giữa 1 số doanh nghiệp nội dung và nhà mạng biến động không ngừng, nhà mạng thích thế nào chia như thế, ban đầu chia 60% cho CP, sau giảm 50%, 40%, thậm chí có 30%, chính sách phân phối hàng của nhà mạng không ổn định khiến 1 số doanh nghiệp nội dung không muốn đầu tư dài hạn, ngành nội dung số có nguy cơ teo tóp.

Cách mạng 4.0, IoT phải phát triển mạnh chi trả không dùng tiền mặt, nhưng GĐ này mật độ chi trả qua thẻ cào rất lớn, trong khi 1 số nước mật độ dùng thẻ cào rất ít. Trung Quốc trước đó cũng dùng thẻ cào nhưng giờ nếu không dùng ví điện tử sẽ không không chi trả được. Đề nghị Bộ TT&TT phải chỉ đạo 1 số doanh nghiệp viễn thông điều chỉnh lại, nếu Bộ không tác động thì mật độ thẻ cào rất lớn, thẻ cào vẫn là tiền mặt. Việc này cần làm được ngay làm giảm giá thành chi trả kết nối, nâng cao sự tranh đua. Sự bất bình đẳng giữa doanh nghiệp nội dung số, truyền thông trong nước có nước ngoài, cơ chế đối thoại có tư bản chưa được hiệu quả, chúng ta đang tương tác có doanh nghiệp toàn cầu có đại diện của họ ở Đông Nam Á, chưa có cơ chế trực tiếp có đầu não. Doanh nghiệp nước ngoài muốn có phân khúc có doanh thu ổn định, thời gian tới Hội Truyền thông số sẽ có tương tác trực tiếp có đầu não của 1 số doanh nghiệp nước ngoài, Việt Nam là phân khúc lớn nên việc tương tác trực tiếp có 1 số doanh nghiệp toàn cầu là cần thiết.

Ông Bùi Quang Ngọc, Tổng giám đốc FPT cho biết: Liên quan đến lĩnh vực nội dung số, doanh nghiệp trong nước đưa ra 1 số kiến nghị cần được bình đẳng, nhà nước cần hoạch định ra 1 số chiến lược cho từng lĩnh vực trong ngành CNTT- viễn thông nhìn chung là cần thiết. Ý kiến về việc 1 số doanh nghiệp viễn thông lớn của Việt Nam đang nuôi 1 số doanh nghiệp nội dung số của họ, theo tôi Bộ TT&TT cần ghi nhận và có chính sách phân phối hàng quản lý thế nào cho thích hợp chắc chắn tranh đua lành mạnh cho ngành nội dung số phát triển. Đối có ý kiến của 1 số doanh nghiệp nội dung số trong nước về việc chính sách phân phối hàng đang bảo hộ ngược cho 1 số doanh nghiệp nước ngoài, rồi doanh nghiệp trong nước bị ngược đãi so có có doanh nghiệp nước ngoài tôi nghe không được thuận tai lắm. Chính xác ra 1 số anh phải nói là doanh nghiệp trong nước không được ưu đãi bằng doanh nghiệp nước ngoài.

Tôi nói ví dụ, 1 sốh đó hơn chục năm khi Intel muốn đặt nhà máy ở Việt Nam cả hệ thống chính trị của Việt Nam khi ấy phải vào cuộc để Intel có thể đầu tư được. Samsung cũng vậy, họ đầu tư mấy chục tỷ USD, nếu không ưu đãi, không khuyến khích, họ bỏ đi sang 1 số nước kế bên ngay. Ngành nội dung số cũng vậy, doanh nghiệp trong nước yêu cầu doanh nghiệp nước ngoài phải xin giấy phép, nếu nhà nước yêu cầu họ xin phép, họ thuê giải đáp chỉ 1 tuần họ có giấy phép. Khi họ có giấy phép rồi 1 số quý khách có chiến đấu lại được không, chắc chắn họ vẫn là người khổng lồ, cuộc chiến nào cũng thế thôi. Chúng ta không nên so sánh có Trung Quốc vì họ là cường quốc. Nếu chúng ta học tập Malaysia hay Thái Lan xem họ làm thế nào hãy học tập, không nên học Trung Quốc. Trung Quốc họ chặn được Facebook, Google vì có mạng xã hội riêng còn ta không có mạng xã hội để thay thế. Không có Facebook, Google chúng ta “chết ngay”. Câu chuyện chiến đấu có người khổng lồ xuyên biên giới không phải câu chuyện về quản lý mà là cuộc chiến về công nghệ, con người và nền móng, Việt Nam sẽ luôn là người thua thiệt vì chúng ta quá nhỏ. Tôi cũng không đồng tình kiến nghị bỏ giấy phép game, game vẫn cần phải được cấp phép và quản lý nội dung song có thể kiến nghị bỏ bớt 1 số thủ tục hành chính.

Kết luận buổi Tọa đàm, Thứ trưởng Nguyễn Thành Hưng cho biết, mục tiêu khi tổng kết việc thi hành Luật CNTT cũng là dịp để xác định các rào cản, vấn đề mà Nhà nước, Quốc hội cần thấy mà nếu không giải quyết được thì chẳng thể đưa CNTT lên 1 tầm mới như chờ mong là làm ngành hạ tầng của hạ tầng, chẳng thể giúp cho Chính phủ của chúng ta trở thành 1 chính phủ kiến tạo. Những nội dung quan trọng trong tổng kết Luật CNTT GĐ này cần được quan tâm là sự chồng chéo trong Luật, trong vấn đề quản lý Nhà nước biểu hiện ở các vấn đề cụ thể. Chúng ta mong muốn sự thông thoáng trong đầu tư, nhưng thực chất mà nói vấn đề này lại bị điều tiết bởi pháp luật khác. Sự chồng chéo còn biểu hiện trong vấn đề tranh đua. Có thể nói, toàn bộ 1 số vấn đề về tranh đua đều đã được quy định trong Luật Cạnh tranh, thế nhưng rất khó điều tiết 1 số vấn đề tranh đua bởi Luật Cạnh tranh áp theo chiều ngang và có thể được tiến hành cho 1 số ngành. Nhưng lại không có 1 số vấn đề quy định cụ thể. Các điều khoản đó chẳng thể điều tiết 1 số trường hợp cụ thể và đặc trưng trong lĩnh vực viễn thông hay CNTT.

Ông Nguyễn Long, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội Tin học Việt Nam (VAIP).

Ông Nguyễn Long, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội Tin học Việt Nam (VAIP).

Ông Nguyễn Long, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội Tin học Việt Nam (VAIP) phát biểu: Ở góc độ 1 số Hội, Hiệp hội chúng ta cũng cảm thấy rằng 10 năm công nghệ 1 sốh tân rất nhiều. Chúng tôi nhớ rằng 1 sốh đó hơn 10 năm, vào năm 2005, Luật Giao dịch điện tử ra đời. Tiếp đó, năm 2006, Luật CNTT được ban hành. Lúc đó, giới CNTT nước nhà còn đang tranh luận về doanh số ngành phần mềm là 500 triệu USD hay 1 tỷ USD. Còn GĐ này, mảng nội dung số có doanh số đạt 1 tỷ USD; doanh thu của 1 số ngành viễn thông, phần mềm, điện tử… cũng rất lớn. Đó là thành công của Luật CNTT. Theo phân tích của chúng tôi, Luật rất ổn nhưng vấn đề là chúng ta có thực hiện được không. Tôi muốn đề cập 1 số điểm đã được quy định trong Luật nhưng đến nay vẫn thấy khó thực hiện. Đơn cử như việc CNTT có phải là ngành kinh tế trung tâm hay không? Hay vẫn chỉ được coi là ngành phụ? Các doanh nghiệp viễn thông, CNTT đã đóng góp rất lớn trong thời gian qua. Tuy nhiên, thực ở GĐ này việc ghi mục lục chi cho CNTT trong Mục lục Ngân sách, qua nhiều lần họp vẫn chưa chốt được mật độ % được Bộ Tài chính thống nhất ghi.

Hay như việc đầu tư triển khai hệ thống CNTT theo Nghị quyết 36a của Chính phủ, 1 số đại biểu cũng đã ý kiến, giá thành rất gặp khó. Chính vì vậy, chúng tôi kỳ vọng Bộ TT&TT làm tổng kết 10 năm thi hành Luật CNTT nghiêm túc để đưa ra đề xuất, kiến nghị có cấp trên là ngành CNTT thời gian qua đã rất nỗ lực, là ngành kinh tế trung tâm, đã và sẽ đóng góp nhiều cho nền kinh tế đất nước; thế nhưng vì nguyên nhân gì mà ngành chúng ta vẫn bị coi là thứ yếu, là ngành phụ, vẫn phải đi “xin”. Về nguồn lực CNTT, rõ ràng chúng ta đang có hiện trạng chảy máu chất xám, nhiều cháu giỏi đi khiến cho Tây có mức lương cao. Các doanh nghiệp như FPT, VCCorp và 1 số doanh nghiệp lớn khác của Việt Nam rất khó, thậm chí là không tuyển được 1 số nhân tài trong ngành. Theo ý kiến của Hội Tin học, chúng ta nên tổng kết 1 số cái được, cái chưa được sau 10 năm thi hành Luật CNTT. Quan trọng nhất, điều chúng tôi mong muốn bày tỏ ra là: ngành CNTT của chúng ta đóng góp rất cao. Ngay như thi công Chính phủ điện tử giúp hiệu quả, minh bạch, giảm giá thành, công sức cho người dân nhưng hiện vẫn có hiện trạng cơ quan quản lý về tài chính lo tiêu phí nên không cấp giá thành. Bên cạnh đó, dù đóng góp nhiều nhưng chính bản thân ngành CNTT hơi tự ti. Tôi nghĩ rằng chúng ta cần bày tỏ rõ ràng giá trị, hiệu quả của ngành mình đóng góp cho xã hội. Ví dụ như, về giá trị tăng lên của nội dung số lên tới 50%. Tôi muốn nhấn mạnh, nội dung quan trọng khi thực hiện tổng kết 10 năm thi hành Luật CNTT chính là chúng ta phải nói địa điểm, vai trò của ngành mình.

Liên quan đến công dụng quản lý Nhà nước trong lĩnh vực điện tử, Thứ trưởng Nguyễn Thành Hưng cho rằng, đó còn là vấn đề lúng túng giữa Bộ Công Thương và Bộ TT&TT. Sắp tới, Bộ TT&TT sẽ có các đề xuất cụ thể về quản lý nhà nước trong lĩnh vực điện tử bởi GĐ này còn sự chồng chéo, giao thoa giữa hai Bộ. Nhà nước phải tiếp tục rà soát cơ chế chính sách phân phối hàng để tránh chồng chéo, 1 lĩnh vực phải chịu nhiều sự quản lý. Đây cũng là chủ trương của Nhà nước. Bộ TT&TT cũng đang có đề xuất có Chính phủ là giảm mức độ đóng góp quỹ Viễn thông công ích. Ngoài ra, đề xuất nên quy định vấn đề quy chuẩn trong chuyển nhượng điện tử, 1 số chuyển nhượng nào cần điện tử hóa. Phải có tác động để 1 số chuyển nhượng điện tử tăng lên lên. Có bởi thế chúng ta mới thi công được Chính phủ điện tử, 1 xã hội kết nối. Đây cũng là vấn đề được Bộ TT&TT cực kỳ quan tâm.

Vấn đề là làm thế nào để dịch vụ viễn thông – CNTT phải thuận tiện tiếp cận có mức giá thành thấp. Mục tiêu của Nhà nước khi quản lý 1 số doanh nghiệp viễn thông là mức độ phục vụ của 1 số doanh nghiệp đối có xã hội như thế nào. Tất nhiên, đối có 1 số doanh nghiệp, tăng trưởng về doanh thu, lợi nhuận là cần thiết. Nhưng vai trò phục vụ xã hội để biểu hiện viễn thông, CNTT là nền móng hạ tầng là rất quan trọng. Đây cũng là điều chúng ta phải tiếp tục gắng sức. Mặc dù, GĐ này, giá phí dịch vụ viễn thông của Việt Nam đã rất rẻ nhưng nó phải tiếp tục rẻ và chắc chắn chất lượng cao. Một vấn đề nữa là phải quan tâm đến opendata. Làm sao để thúc đẩy được? Điều đáng buồn là hiện chúng ta chưa thực sự có 1 cơ sở dữ liệu quốc gia nào đến nơi đến chốn, bởi thế phải đẩy mạnh Bên cạnh đó.

Ngoài ra, cũng có nhiều điều cần quan tâm đến lĩnh vực nội dung số. Nền tảng, hạ tầng của chúng ta không chỉ là vấn đề về viễn thông mà còn là nền móng về cơ sở dữ liệu, về chi trả để tạo thuận lợi cho 1 số doanh nghiệp nội dung số phát triển. Bộ TT&TT đã ý thức rõ 1 số bất cập, bất bình đẳng giữa 1 số doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài. Bộ mong muốn 1 số doanh nghiệp nội dung số, 1 số hiệp hội liên quan cộng Bộ có tiếng nói để tháo gỡ, có 1 sốh thức để làm việc có doanh nghiệp nước ngoài nhằm tạo nền móng càng ngày càng bình đẳng hơn có 1 số doanh nghiệp trong nước. Quan trọng nhất của việc tổng kết Luật CNTT không phải là các nhận định chúng ta đã làm được gì liên quan đến Luật mà chính là danh mục kiến nghị, đề xuất có Quốc hội liên quan đến ngành CNTT. Bộ TT&TT mong rằng trong thời gian tới nhận được sự hợp tác mạnh mẽ Bên cạnh đó để từng bước đưa ngành CNTT tiến lên.

Bạn đang xem chuyên mục Kinh Te VI Mo Dau Tu ở CTT.EDU.VN

Bạn nên click xem thêm tài liệu của trang nàyhttps://giakhanhland.vn/kien-thuc/

COMMENTS

WORDPRESS: 0
DISQUS: 0