TS. Nguyễn Đình Cung: Cải cách sẽ rất dễ và cũng có thể rất khó

Cải cách sẽ rất dễ và cũng có thể sẽ là rất khó. Sẽ rất dễ nếu được các Bộ trưởng đồng lòng thực hiện, tạo động lực từ nội khu và sức ép từ ngoại khu

Lo đẩy hết hàng tồn, ô tô còn ‘đại hạ giá’ đến Tết
Cách mạng 4.0 và “những nhà máy không ánh đèn”
Vào chuỗi cung ứng toàn cầu để phát triển

Cải cách sẽ rất dễ và cũng có thể sẽ là rất khó. Sẽ rất dễ nếu được các Bộ trưởng đồng lòng thực hiện, tạo động lực từ nội khu và sức ép từ ngoại khu. Nếu chỉ dừng lại ở cam đoan mạnh mẽ thì chưa đủ, mà phải hành động theo đến cùng, truy đến cùng trách nhiệm để tạo sức ép có cấp trung gian trong cách tân biện pháp quản lý, để đồng hành, chia sẻ và hỗ trợ Thủ tướng trong nỗ lực cải cách… Chia sẻ Tweet

Giấy phép con cản trợ công ty phát triển

Tại phiên họp Chính phủ chuyên đề thi công pháp luật mới đây, Thủ tướng đã đề nghị Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) Nguyễn Đình Cung “nói về tình hình bức xúc nhất của công ty là gì” và đề nghị các Bộ trưởng chú tâm lắng nghe.

Trả lời câu hỏi này, TS. Nguyễn Đình Cung cho rằng các quy định về ngành nghề kinh doanh có điều kiện và điều kiện kinh doanh là 1 trong các vấn đề bức bối trong hệ thống pháp luật về kinh doanh nhìn chung và môi trường kinh doanh nói riêng. Do vậy, vị này đã trực tiếp đề nghị Thủ tướng cho cắt bỏ gần 3.000 điều kiện kinh doanh.

Để làm rõ xung quanh việc cắt bỏ điều kiện kinh doanh, xoá bỏ giấy phép con, phóng viên đã có cuộc thảo luận có TS. Nguyễn Đình Cung.

TS. Nguyễn Đình Cung nói:

– Việc cải cách các điều kiện kinh doanh là 1 đề nghị có tính chọn lọc để tăng qui mô và chất lượng của phần cung nền kinh tế, để tăng trưởng GDP đạt mức 7-8%/năm. Nếu không tăng trưởng GDP chẳng thể vượt được lên mức đây.

Tuy nhiên, tính chất phức tạp và các hạn chế của các quy định về điều kiện kinh doanh đã hạn chế sự phát triển các sản phẩm mới, quy trình mới, cách làm mới và công nghệ mới trong nền kinh tế, khiến cho tính năng động của nền kinh tế kém hơn.

Với hàng trăm văn bản được ban hành và đã theo dõi vấn đề này 20 năm, tôi suy nghĩ mãi và thấy rằng về mặt ngôn ngữ, khó tìm ra được 1 từ để mô tả tính phức tạp của các quy định về điều kiện kinh doanh, phải kết hợp có các hình ảnh nữa mới mô tả được bản chất của nó

Có thể lấy ví dụ cho câu chuyện này là việc đăng ký kinh doanh xuất khẩu gạo. Theo quy định, công ty kinh doanh xuất khẩu gạo cũng phải có kho bãi. Đây là 1 điều kiện bất hợp lý, làm tăng kinh phí và cũng lãng phí đầu tư của công ty và ngược có tiêu chuẩn phân khúc, là chuyên môn hóa chia sẻ rủi ro. Thay vì công ty làm toàn bộ, họ có thể đi thuê kho của công ty chuyên cho thuê kho bãi, bởi thế kho bãi sẽ có hiệu suất sử dụng cao hơn, rủi ro được san sẻ…

Chúng ta thi công thương hiệu gạo phải đi từ sản xuất nhỏ, thi công quy trình sản xuất để kiểm soát được. Xuất khẩu thời gian đầu chỉ 1 – 2 container vào phân khúc nhỏ như Singapore thì cần đầu tư kho bãi làm gì?

Rồi quy định đề nghị xây trung tâm y tế phải 5.000m2. Nếu 1 trung tâm y tế 1.000m2, xây 17 tầng, trong đây dùng hẳn 1 tầng làm vườn hoa bởi thế sẽ tiết kiệm không gian, tốt cho người bệnh… Nhưng hiện quy định từng này qui mô khiến cách làm mới chẳng thể tồn ở và triệt tiêu tính sáng tạo.

Chính phủ và Thủ tướng đã rất ráo riết trong việc xoá bỏ giấy phép con. Tuy nhiên, qua phản ánh cho thấy cắt bỏ được giấy phép con lại lòi “giấy phép cháu”,“giấy phép mẹ”. Vì đâu có tình trạng cắt giảm các điều kiện kinh doanh nhưng sau đây lại xuất hiện thêm điều kiện khác?

Nguyên nhân là do biện pháp quản lý tốn kém, hành chính, hình thức mà không có hiệu lực do ở nước ta có nghịch lý là quản lý cắt khúc, “ngồi chăm chăm để cấp phép”. Quản lý nền kinh tế như thế chẳng giúp gì được cho công ty mà chỉ bảo vệ quyền, lợi ích của người liên quan. Vì thế nên bỏ dao động 1/2 danh mục hàng hoá đang bị kiểm tra chuyên ngành, điều kiện kinh doanh nhằm loại bỏ các rào cản gia nhập phân khúc, loại bỏ các thứ hạn chế năng động, sáng tạo, cách làm mới.

Cải cách sẽ rất dễ và cũng có thể sẽ là rất khó

Ông có kỳ vọng như thế nào về cải cách toàn diện giai đoạn này?

Thủ tướng đã nhìn rất “trúng” vấn đề khi nhìn công ty như là nền móng của tăng trưởng. Chính bởi thế ngay sau khi nhậm chức, Thủ tướng đã gặp công ty, sau đây cũng có nhiều diễn đàn nhằm đối thoại để tháo bỏ rào cản, tháo gỡ gặp khó, tạo môi trường thông thoáng cho công ty. Và đi đâu, Thủ tướng cũng liên tục nhấn mạnh tới thông điệp vì công ty.

Thủ tướng cũng đề nghị địa phương hàng tháng, hàng quý phải đối thoại có công ty nhằm mở ra nhiều kênh thu thập tài liệu. Trước sự quyết liệt của Thủ tướng, toàn bộ đã phải dè chừng hơn trong việc gây gặp khó hoặc tạo ra rào cản đối có công ty.

Tuy nhiên, cải cách sẽ rất dễ và cũng có thể sẽ là rất khó. Sẽ rất dễ nếu được các Bộ trưởng đồng lòng thực hiện, tạo động lực từ nội khu và sức ép từ ngoại khu. Nếu chỉ dừng lại ở cam đoan mạnh mẽ thì chưa đủ, mà phải hành động theo đến cùng, truy đến cùng trách nhiệm để tạo sức ép có cấp trung gian trong cách tân biện pháp quản lý, để đồng hành, chia sẻ và hỗ trợ Thủ tướng trong nỗ lực cải cách.

Phải tạo sức ép để các bộ trưởng phải cách tân, đồng lòng vì sự phát triển của quốc gia, chẳng thể để nền kinh tế cứ trì trệ mãi được. Sức ép có thể đến từ Thủ tướng, Phó thủ tướng, từ báo chí. Còn nếu không thì việc cải cách sẽ rất khó.

Cần có tư duy đổi mới để đưa nền kinh tế khỏi trì trệ, cách tân mô hình tăng trưởng cao, bền vững. Muốn được bởi thế, mỗi người đều phải cảm thấy trách nhiệm, lãnh đạo càng cao thì trách nhiệm càng lớn.

Vậy phải làm thế nào để khuyến khích tinh thần kinh doanh, phải làm thế nào để là cải cách chứ không phải cải thiện, thưa ông?

Muốn cách tân thì chẳng thể xử lý theo kiểu từng văn bản, vụ việc. Nếu cách tân nhỏ giọt, cả hệ thống cũng vẫn sẽ tiếp tục theo cách cũ. Cần cách tân toàn diện, đột phá, từ đây cách tân biện pháp quản lý. Phải có hệ quy chiếu để thực hiện. Nước ngoài họ luôn luôn cách tân, vì công ty, vì sự phát triển. Muốn bằng họ, phải thi công hệ quy chiếu của mình như quy chiếu của họ thì nền móng mới cách tân.

Nghị quyết 19 đã nêu rõ, cải cách toàn diện công tác quản lý đối có hàng hóa xuất khẩu và cải cách toàn diện về môi trường kinh doanh, hai mảng này rất quan trọng đối có công ty.

Cải cách toàn diện không chỉ cải cách quy định mà còn cần cách tân năng lực quản lý từ tiền kiểm sang hậu kiểm dựa trên hệ thống tài liệu phân loại hàng hoá, dựa trên mức độ rủi ro và tuân thủ của công ty.

Mục tiêu của chúng ta đặt ra đây là phấn đấu môi trường kinh doanh đạt mức ASEAN4. Theo ông, đến nay chúng ta đã đạt được gì?

Môi trường kinh doanh của Việt Nam so có trước thì có cải thiện nhưng so có đề nghị cải cách đất nước, đưa nền kinh tế về quỹ đạo tăng trưởng bền vững thì vẫn còn dao động cách. Những cách tân đã làm được mới chỉ là các vụ việc cụ thể, chỉ mới là tháo gỡ gặp khó của các nhóm công ty chứ chưa phải toàn bộ.

Muốn cách tân không chỉ là xử lý theo kiểu từng văn bản, vụ việc. Cần cách tân toàn diện, đột phá, bỏ rất nhiều cái cũ, từ đây cách tân biện pháp quản lý. Chỉ khi nào đổi như thế mới cách tân được. Bởi nếu cách tân nhỏ giọt cả hệ thống cũng vẫn đi theo cách cũ.

Cách làm kiểu cải thiện không cải cách được diện rộng. Vậy phải cải cách toàn diện triệt để và dứt khoát hơn, phải làm mạnh để phá thành trì trì trệ, phá thứ bảo thủ, phá thứ kìm hãm để bừng nở lôi kéo nguồn lực, bừng nở tinh thần khởi nghiệp…

Như tôi đã nói, cải cách toàn diện thì không chỉ cải cách quy định mà cần cách tân năng lực quản lý, từ tiền kiểm sang hậu kiểm dựa trên hệ thống tài liệu phân loại hàng hoá, công ty có nguy cơ vi phạm nhiều, quản lý dựa trên mức độ rủi ro của công ty và mức độ tuân thủ của công ty.

Xin cảm ơn ông!

Bạn đang xem chuyên mục Kinh Te VI Mo Dau Tu ở CTT.EDU.VN

Bạn nên click xem thêm tài liệu của trang nàyhttps://giakhanhland.vn/kien-thuc/

COMMENTS

WORDPRESS: 0
DISQUS: 0