Vì sao doanh nghiệp Việt đuối sức khi tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu?

Việt Nam có kim ngạch xuất khẩu (XK) cao nhưng điều đáng buồn là thành quả này chủ yếu do doanh nghiệp (DN) có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) có lại. DN

Bộ Tài chính ra quy định mới, DN kêu trời
Bộ trưởng Mai Tiến Dũng: Chính phủ chờ phán quyết của toà quốc tế vụ kiện Trịnh Vĩnh Bình
[Infographics] Việt Nam thu hút 23,36 tỷ USD vốn FDI trong 8 tháng

Việt Nam có kim ngạch xuất khẩu (XK) cao nhưng điều đáng buồn là thành quả này chủ yếu do doanh nghiệp (DN) có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) có lại. DN FDI đang chiếm 3/4 kim ngạch XK của Việt Nam.

Hầu hết các DN trong nước chưa thể cung cấp tốt đề nghị về chất lượng sản phẩm để tham dự chuỗi giá trị toàn cầu cộng nhà sản xuất lớn. Trong khi đây, DN FDI khi đầu tư vào Việt Nam thường có theo 1 loạt doanh nghiệp cung ứng khác. Sự khác biệt này lý giải được nguồn gốc vì nguyên nhân gì mà DN FDI thắng thế so có DN trong nước…

Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB) ở Việt Nam, thường thì các DN FDI dựa vào hệ thống nhà cung cấp cấp 1 của họ ở nước ngoài để có nguồn cung đầu vào. Như trong lĩnh vực công nghệ tài liệu, các DN FDI chủ yếu phàn nàn về việc thiếu các nhà cung cấp trong nước.

Điển hình Samsung Việt Nam, các linh kiện mà Samsung muốn tìm mua trong nước gồm 91 linh kiện cho Samsung Galaxy S4 và 53 linh kiện cho máy tính bảng, nhưng không có DN nào cung cấp được các đề nghị đặt ra trong chuỗi cung ứng điện tử của tập đoàn này, trong khi đây có đến 200 nhà cung cấp trong nước cộng quan tâm.

Hiện nay, trong tổng số 67 nhà cung cấp linh kiện cho Samsung ở Việt Nam thì chỉ có 4 DN trong nước (nhưng cũng chủ yếu là cung cấp bao bì, có giá trị tăng lên thấp), số DN còn lại đến từ nhiều quốc gia như Hàn Quốc, Nhật Bản, Malaysia, Singapore, Anh.

DN nội địa khó cung cấp được các đề nghị trong chuỗi cung ứng của DN FDI.

DN nội địa khó cung cấp được các đề nghị trong chuỗi cung ứng của DN FDI.

Còn có ngành công nghiệp ôtô, có dao động 200 – 300 DN sản xuất phụ tùng, nhưng đa số trong số đây là DN nhỏ và vừa có năng lực sản xuất thấp, công nghệ lạc hậu, giá trị tăng lên thấp, có các công đoạn dễ làm như lắp ráp, hàn, sơn. Tỷ lệ nội địa hóa của ngành này rất thấp, chỉ chiếm dao động từ 10 – 20%, trong khi ở 1 nước, như Thái Lan mật độ này chiếm đến 45%…

Thực tế cho thấy, chính vì DN Việt Nam không cung ứng nhiều các loại thiết bị linh kiện nên các DN FDI thường tìm kiếm, sử dụng các nhà cung cấp ở nơi khác.

Nói về việc tham dự chuỗi giá trị toàn cầu, ông Nguyễn Đức Hồng, Phó Tổng Giám đốc Công ty cao su Thống Nhất cho biết, doanh nghiệp cung cấp sản phẩm cho doanh nghiệp Nhật Bản nhưng không phân phối trực tiếp mà phân phối qua 1 doanh nghiệp trung gian.

“Nghĩa là, dù có tham dự vào chuỗi nhưng DN nội địa vẫn chưa đủ lực để cung ứng tận tay nhà sản xuất cuối cộng”, ông Hồng khẳng định.

Tại 1 hội thảo do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp có WB vừa tổ chức ở TP Hồ Chí Minh, ông Charles Kunaka, chuyên gia kinh tế trưởng WB khẳng định: “Tham gia chuỗi giá trị toàn cầu là động lực chính phát triển kinh tế, nhưng Việt Nam chưa làm được. Việt Nam chỉ mới tham dự vào chuỗi giá trị toàn cầu ở các khâu dễ làm như lắp ráp. Đây chính là công đoạn hạ nguồn của sản xuất giá trị tăng lên, phần thượng nguồn do DN FDI nắm giữ”.

Ông Charles Kunaka cảnh báo, Việt Nam có nguy cơ bị kẹt ở bẫy giá trị tăng lên thấp, nghĩa là chỉ tranh đua giá rẻ. Việt Nam đang đứng trước ngã rẽ. Một là tiếp tục phát triển như giai đoạn này.

Hai là tận dụng thời cơ phát triển công nghiệp trong nước. Để thành công ở cả hai hướng trên đòi hỏi các nhà hoạch định chính sách phân phối hàng của Việt Nam phải cân nhắc đầy đủ hơn các diễn biến thực ở mới của nền kinh tế toàn cầu.

Ông Nguyễn Thắng, Giám đốc Trung tâm Phân tích và Dự báo, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam nhìn nhận, DN Việt Nam đang thu hẹp dần các thời cơ vì chịu áp lực tranh đua từ hai phía. Phía nhà cung ứng rẻ hơn như Campuchia, Bangladesh, Myanmar. Còn các tập đoàn đa quốc gia thì chọn đặt nhà máy ở các nơi nào có thể số hóa, tự động hóa hơn là cần lao động như trước kia.

“Vì vậy, chẳng thể nói là muốn hay không muốn tham dự vào chuỗi giá trị toàn cầu. Với đề nghị giai đoạn này, muốn tồn ở và phát triển thì DN Việt phải tự bứt phá để lên nấc thang cao hơn. Rất nhiều DN lớn đang dịch chuyển đầu tư vào Đông Nam Á nhìn chung và Việt Nam nói riêng thì mô hình tham dự chuỗi giá trị thông qua khâu hàn, sơn, lắp ráp không còn thích hợp nữa”, ông Thắng khẳng định.

Theo Bộ Công Thương, giai đoạn này Việt Nam mới chỉ có 300 DN đủ năng lực tham dự chuỗi cung ứng cho DN FDI nhưng chủ yếu là phụ tùng thay thế chứ chưa sản xuất được sản phẩm chính. Trong số đây, chỉ có 2% là DN lớn, 2-5% là DN vừa, còn lại là các DN nhỏ và siêu nhỏ.

Đặc biệt, rất ít DN kết nối được vào chuỗi giá trị tăng lên toàn cầu. Trước thực ở này, để góp phần đưa DN Việt Nam vươn lên cao hơn trong chuỗi giá trị cung ứng toàn cầu, Chính phủ đã thi công khung chính sách phân phối hàng công nghiệp hỗ trợ, nâng cao năng lực công nghệ của các nhà cung cấp trong nước, tạo liên kết có các nhà đầu tư FDI, thực hiện các chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ…

Gần 70 kim ngạch xuất khẩu rơi vào doanh nghiệp FDI

Bạn đang xem chuyên mục Kinh Te VI Mo Dau Tu ở CTT.EDU.VN

Bạn nên click xem thêm tài liệu của trang nàyhttps://giakhanhland.vn/kien-thuc/

COMMENTS

WORDPRESS: 0
DISQUS: 0