Bộ trưởng Tài chính: Tỷ lệ vốn được thoái tại DNNN chỉ đạt 7,5%

Đến hết 2017, mật độ vốn nhà nước đã thực phân phối trong cổ phần hoá và thoái vốn vào dao động 7,5%, tính theo tổng số vốn nhà nước cuối năm 2016 C

Toàn cảnh bức tranh kinh tế Việt Nam tháng 4/2019 qua các con số
Tiền lương bình quân của người lao động năm 2017 đã tăng 9,3%
Nợ hơn 400 nghìn tỷ, EVN vẫn thiếu hụt tiền đầu tư

Đến hết 2017, mật độ vốn nhà nước đã thực phân phối trong cổ phần hoá và thoái vốn vào dao động 7,5%, tính theo tổng số vốn nhà nước cuối năm 2016

Có doanh nghiệp chỉ phân phối được 1% – 2% vốn

Tại Quốc hội chiều nay, Bộ trưởng Tài chính Đinh Tiến Dũng đã bổ sung thêm tài liệu về làm việc cổ phần hoá DNNN, bên cạnh báo cáo của Đoàn giám sát đã đưa ra trong phiên trao đổi sáng.

Bộ trưởng cho biết trước năm 2011, 3.958 doanh nghiệp đã được cổ phần hoá có tổng giá trị vốn nhà nước là 139.00 tỷ đồng. Số vốn nhà nước chuẩn bị phân phối ra là 36.00 tỷ đồng nhưng thực ở phân phối được 34.000 tỷ đồng. Số vốn nhà nước chiếm 2,4% tổng số vốn nhà nước so có số vốn cuối năm 2016 vốn nhà nước ở doanh nghiệp 1.398.000 tỷ đồng.

Đến GĐ 2011 – 2016 có 571 doanh nghiệp, so có tổng giá trị vốn nhà nước là 214 ngàn tỷ đồng, số vốn nhà nước chuẩn bị phân phối là 73 ngàn tỷ đồng, thực ở phân phối 43 ngàn tỷ đồng. Số vốn nhà nước thực phân phối chiếm 3% tổng số vốn nhà nước cuối năm 2016.

Như vậy, nếu tính cả số vốn nhà nước đã thoái là 14,6 ngàn tỷ đồng thì GĐ này vốn nhà nước cổ phần hóa và thoái vốn chiếm 4,1%.

“Tổng số vốn nhà nước so có cuối năm 2016 đúng như báo cáo giám sát là rất thấp, rất ít, có doanh nghiệp chỉ phân phối được 1% đến 2%”, Bộ trưởng nói.

Theo Bộ trưởng, năm 2017 có 69 doanh nghiệp cổ phần hóa có tổng giá trị vốn nhà nước là 160 ngàn tỷ đồng, số vốn nhà nước chuẩn bị phân phối ra là 75.000 tỷ. Tuy nhiên, thực ở 5 tháng đầu năm đã IPO được 21 doanh nghiệp thu được 5.000 tỷ đồng.

Do đây, nếu tính tổng số vốn nhà nước được thoái là 9.000 tỷ đồng thì thực thu là 139.000 tỷ đồng, trong đây có Sabeco. Tỷ lệ vốn nhà nước phân phối khi cổ phần hóa và thoái vốn là 14.000 tỷ đồng chiếm 1% so có vốn nhà nước vào cuối năm 2016 ở doanh nghiệp.

“Như vậy, hết năm 2017 mật độ vốn nhà nước thực phân phối trong cổ phần hóa và thoái vốn dao động 7,5% tính theo tổng số vốn nhà nước cuối năm 2016”, Bộ trưởng nói.

Đất đai là 1 vướng mắc lớn

Bộ trưởng nhấn mạnh quá trình cổ phần hóa còn vướng mắc liên quan đến đất đai. Theo đây, 1 số doanh nghiệp sử dụng nhiều quy mô đất vàng ở nhiều địa phương chưa thống nhất được phương án sử dụng đất đai có địa phương trước khi cổ phần hóa.

Quá trình này thực ở đã được UBND tỉnh, đô thị có ý kiến trả lời về phương án sử dụng đất và giá đất nhưng thường rất chậm dẫn đến việc phải kéo dài thời gian điều chỉnh công đoạn cổ phần hóa.

Theo Bộ trưởng, 1 số địa phương chưa kiên quyết trong việc thu hồi, xử lý đất đai của một số doanh nghiệp sử dụng đất không đúng mục đích, vi phạm pháp luật về đất đai.

Đây chính là các tồn ở của khâu tổ chức thực hiện đã làm ảnh hưởng đến công đoạn và kết quả của quá trình cổ phần hóa DNNN, phản ánh chưa đầy đủ giá trị doanh nghiệp. Khi cổ phần hóa cũng như lý do 1 số doanh nghiệp, cá nhân lợi dụng để vi phạm quản lý, sử dụng đất đai trước, trong và sau khi cổ phần hóa chuyển doanh nghiệp nhà nước sang doanh nghiệp cổ phần.

Đến nay, Bộ trưởng cho biết đã có nhiều chính sách phân phối hàng được đưa ra để khắc phục hiện tượng này.

Đối có quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, Bộ trưởng 1 lần nữa nhấn mạnh việc thi công, phê duyệt phương án sử dụng đất của doanh nghiệp là rất quan trọng. Và quan trọng hơn là sau cổ phần hóa, chính quyền địa phương nơi doanh nghiệp có đất đai phải quản lý nghiêm ngặt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, đặc thù là mục đích sử dụng đất, quy hoạch thi công.

Khi doanh nghiệp có nhu cầu chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ đất sản xuất sang đất ở, đất thương mại, thích hợp có quy hoạch thi công thì phải thu hồi, đấu giá công khai để thu về cho nhà nước có giá trị cao nhất.

“Chúng tôi cho rằng trách nhiệm này thuộc về chính quyền địa phương nơi trực tiếp quản lý đất đai”, ông nói và cho biết thêm nếu quy mô đất trên 10 ha mới cần xin ý kiến của Thủ tướng.

Bộ trưởng Dũng kiến nghị cần xiết chặt hơn một số vấn đề liên quan đến đất, đặc thù là kiểm định đổi mục đích.

Nói thêm về công đoạn cổ phần hoá còn chậm, Bộ trưởng Dũng yêu cầu Chính phủ, Thủ tướng tiếp tục chỉ đạo quyết liệt để có sự vào cuộc đồng bộ gắn có trách nhiệm cụ thể của từng cá nhân lãnh đạo doanh nghiệp, cơ quan đại diện chủ có giai đoạn này theo phân cấp là một số bộ, ngành, một số địa phương là chủ có doanh nghiệp.

Bên cạnh đây, ông cũng đặc thù lưu ý đến vấn đề kỷ luật, kỷ cương trong quản lý, sử dụng đất đai mà doanh nghiệp nhà nước đang quản lý trước, trong và sau khi cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, tính công khai, minh bạch trong quá trình cổ phần hóa.

Một “điều kỳ lạ” về doanh nghiệp Nhà nước

Bạn đang xem chuyên mục Kinh Te VI Mo Dau Tu ở CTT.EDU.VN

Bạn nên click xem thêm tài liệu của trang nàyhttps://giakhanhland.vn/kien-thuc/

COMMENTS

WORDPRESS: 0
DISQUS: 0