Cần nghiên cứu đúng mức chính sách khai thác FTA

Trao đổi có phóng viên Báo Hải quan, ông Trần Hữu Huỳnh, Chủ tịch Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) cho rằng, để khai thác tốt hơn 1 vài lợ

Vì đâu Thaco Trường Hải giảm tới đáy các mẫu ô tô Mazda?
[Infographic] Cải cách chính sách tiền lương có những điểm mới nổi bật nào?
Chính phủ chính thức cho phép thành lập Hãng hàng không Bamboo Airways

Trao đổi có phóng viên Báo Hải quan, ông Trần Hữu Huỳnh, Chủ tịch Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) cho rằng, để khai thác tốt hơn 1 vài lợi thế từ 1 vài Hiệp định Thương mại tự do (FTA), cần có sự tổng kết, phân tích việc thực hiện 1 1 vàih kịp thời để gỡ 1 vài nút thắt. Bên cạnh đó, trong bối xung đột thương mại, xu thế bảo hộ tăng cao, chính sách phân phối hàng khai thác FTA nhằm tối ưu hóa lợi thế, cắt giảm rủi ro cần được quan tâm đúng mức.

Thay đổi cán cân thương mại, xuất siêu đáng kể trong năm 2017 cũng như nửa đầu năm nay được nhận định là kết quả khả quan thu được nhờ quá trình hội nhập kinh tế sâu rộng, điển hình là tham dự 1 vài FTA. Tuy nhiên, không ít ý kiến cho rằng, việc tăng trưởng XK tùy thuộc quá nhiều vào khối DN FDI là điểm đáng lo ngại. Quan điểm của ông như thế nào?

Chính sách lôi kéo đầu tư FDI của Việt Nam chỉ tốt nếu tập trung vào 1 vài khía cạnh như vốn, công nghệ và quản trị DN, kết nối hiệu quả FDI có 1 vài DN nội địa. Chính sách này khá nhất quán, tiếc rằng khâu thực thi chưa đạt. Tuy nhiên, cũng cần phải khẳng định rằng, Việt Nam vẫn cần tiếp tục kêu gọi đầu tư FDI để trước mắt giải quyết vấn đề lao động và song song đó, cần cải thiện chất lượng đầu tư theo hai hướng chính: Thu hút công nghệ cao, tạo giá trị chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu.

Riêng trong tận dụng FTA nhằm thúc đẩy XK, tổng kim ngạch XK tuyệt đối tăng lên, có người băn khoăn vì đó chủ yếu là của FDI. Vấn đề không phải là cố để kéo giảm XK của khối FDI mà sức ép là cần tăng kim ngạch XK của khối DN nội địa thông qua phát triển 1 vài sản phẩm có khả năng tranh giành, phong phú hóa phân khúc, tận dụng tối đa lợi thế có được từ FTA mà 1 vài quốc gia khác vốn dĩ có hàng hóa tranh giành có Việt Nam không có được…

Như đã nói, FDI là 1 nguồn lực quan trọng của nền kinh tế Việt Nam. Trong lôi kéo đầu tư FDI, cần nhấn mạnh nhân tố công nghệ. Đương nhiên, có tiếp cận được công nghệ từ khối DN FDI hay không còn tùy thuộc vào hai nhân tố: Năng lực lôi kéo FDI công nghệ cao của Nhà nước và năng lực khai thác 1 vài FDI công nghệ cao này của DN Việt Nam. Các chính sách phân phối hàng cần thiết về giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, khởi nghiệp, 1 vài hỗ trợ thích hợp cho 1 vài DN có làm việc kinh doanh liên kết theo chuỗi giá trị cần được triển khai mới có thể khai thác được sự liên kết này.

Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, đặc thù là tham dự 1 vài FTA, Việt Nam đạt được không ít kết quả nổi trội. Tuy nhiên, thực ở cho thấy, việc tận dụng lợi ích, thời cơ mở ra từ 1 vài FTA chưa như chờ mong. Theo ông, đâu là 1 vài lý do căn bản dẫn tới điều này?

Thứ nhất, dù giai đoạn này đã có 1 vài tiến bộ nhất định song phải khẳng định rằng, việc dự tính để tham dự, thực hiện 1 vài FTA của Việt Nam chưa thực tốt ngay từ khâu đề xuất chính sách phân phối hàng đàm phán, thể hiện cụ thể nhất là sự tham dự của 1 vài hiệp hội, ngành hàng, 1 vài DN có liên quan.

Ở 1 vài nước khác, khi đàm phán 1 vài FTA, 1 vài ngành hàng liên quan đều có hiệp hội lên tiếng ủng hộ hay phản biện tùy theo theo ích lợi “ăn theo” hay “mất phần” của 1 vài nhóm DN này. Dựa trên lợi ích quốc gia, 1 vài đoàn đàm phán sẽ có sự “cân, đong, đo, đếm” cho thích hợp. Ví dụ, nội dung đàm phán FTA có nêu công đoạn cắt giảm thuế suất cho mặt hàng thép, 1 vài nhà NK sẽ muốn thuế thấp, công đoạn giảm nhanh trong khi 1 vài nhà sản xuất thép nội địa cùng loại lại muốn phải có hàng rào bảo hộ ở mức độ nhất định để chắc chắn DN ít bị ảnh hưởng nhất. Các nhóm DN có lợi ích đối lập này thường tổ chức 1 vài cuộc vận động (lobby) tới 1 vài đoàn đàm phán, gây tác động. Sau khi có kết quả đàm phán, họ triển khai nhanh việc khai thác thời cơ hoặc cắt giảm rủi ro.

Trong quá trình tham dự 1 vài FTA, ở Việt Nam chưa có được sự dự tính chủ động bởi thế. Các DN coi đó là việc của Chính phủ, ít quan tâm ngay từ đầu. Chỉ có ít hiệp hội đại diện được tiếng nói của DN ngành trong việc góp ý cho 1 vài đàm phán FTA. Trong cùng 1 hiệp hội, lợi ích của 1 vài nhóm DN không hiếm khi là đối lập nhau. Ví dụ, trong ngành thép có cả nhà sản xuất và nhà NK thép nên rất khó để Hiệp hội Thép đưa ra được 1 vài kiến nghị chung của hiệp hội về lĩnh vực mở cửa phân khúc này. Do đó, sắp tới cần tạo mọi điều kiện để thành lập 1 vài hiệp hội, DN ngành hàng có cùng lợi ích để họ được tham dự liên tục, sâu sát vào quá trình đàm phán, triển khai thực hiện 1 vài FTA, nhằm bảo vệ lợi ích sát sườn cho mình kể cả kiến nghị 1 vài 1 vàih thức bảo vệ phân khúc trong nước, chống lạm dụng 1 vài 1 vàih thức bảo hộ quá mức ở nước ngoài.

Khi 1 vài nhóm DN có lợi ích đối lập lên tiếng, Nhà nước có vai trò tham khảo, cân đối 1 vài lợi ích đó dựa trên lợi ích quốc gia. Cũng cần lưu ý, do 1 vàih tham dự chủ động như trên nên cùng đồng DN nhiều nước đã có tài liệu đầy đủ, toàn diện, cả khi 1 vài FTA chưa được ký nên khi FTA có hiệu lực họ đã khai thác, triển khai rất nhanh, trong khi ở ta lại ngược lại. FTA ký xong 1-2 năm, nhiều DN vẫn chưa biết đến hoặc nếu có biết thì thụ động ngồi chờ cơ quan nhà nước phổ biến. Việc này kéo dài trong nhiều năm, gần đó có chuyển biến trong 1 số ngành hàng, tuy chưa đáng kể.

Thứ hai, khâu phối hợp về tài liệu, nguồn lực để triển khai 1 vài lợi thế từ 1 vài FTA còn hạn chế. Điều này thể hiện ở chỗ chưa có sự phối hợp trong hệ thống giữa 1 vài cơ quan nhà nước có nhau cũng như giữa bộ máy nhà nước có cùng đồng DN còn manh mún, chưa rõ ràng.

Theo tôi, việc thực hiện kết nối này cần có 1 bộ phận trọng điểm làm đầu mối triển khai, kết nối có ngoại khu và cả nội khu, vướng ở đâu thì gỡ ở đó để tận dụng tốt 1 vài FTA. Ví dụ mô hình như Bộ Công Thương là đầu mối. Bộ Công Thương có trưởng đoàn và nhiều chuyên gia chủ chốt tham dự đàm phán FTA; có 1 vài vụ chuyên ngành về 1 vài phân khúc XNK chủ yếu; có hệ thống thương vụ ở nhiều nước có quan hệ FTA có Việt Nam ở nước ngoài; có hệ thống 1 vài Sở Công Thương ở 63 tỉnh, thành có nhiều trọng điểm xúc tiến thương, mại đầu tư; có Cục Xúc tiến thương mại được Nhà nước giao 1 vài làm việc xúc tiến trong đó có 1 vài FTA; có 1 vài cơ quan có trách nhiệm bảo vệ phân khúc trong nước thông qua 1 vài 1 vàih thức tự vệ thương mại, 1 vài hàng rào kỹ thuật; có sự liên kết nghiêm ngặt có nhiều bộ chuyên ngành về kinh tế; có quan hệ có nhiều hiệp hội, ngành hàng trong cả nước. Bởi vậy, Bộ này có nhiều khả năng nhất để làm đầu mối triển khai 1 vài FTA nhằm khai thác thời cơ tốt nhất đồng thời giải quyết kịp thời nhất 1 vài vấn đề tồn đọng, phát sinh.

Ngoài ra, khâu kết nối phải được áp dụng có 1 vài tỉnh, từ 1 vài tỉnh xuống DN tạo nên 1 vài liên kết mềm có nhau sử dụng công nghệ tài liệu, hạn chế việc hành chính hóa. Có thể thi công trang mạng chuyên về FTA liên kết có 63 tỉnh, thành để ngay cả 1 vài DN siêu nhỏ, nhà nông cũng có thể biết được từng FTA cụ thể như thế nào.

Bên cạnh 1 vài nhân tố trên, khâu tổ chức sơ kết, phân tích việc thực thi từng FTA cần phải không ngừng nghỉ, sâu sát. Nếu không, 1 vài thời cơ cứ trôi đi, trong khi 1 vài đối tác lại khai thác tốt. Chính phủ cần kiểm tra việc thực hiện. Quốc hội cần tổ chức giám sát có hiệu quả từng FTA trên cơ sơ phân tích thực chất được-mất của mỗi FTA.

Trong bối cảnh 1 vài xung đột thương mại lớn trên địa cầu có nguy cơ leo thang, xu hướng bảo hộ lên cao, theo ông Việt Nam cần lưu ý gì trong quá trình hội nhập kinh tế nhìn chung và tham dự 1 vài FTA nói riêng?

Tùy theo từng FTA nhưng nhìn chung quy tắc xuất xứ là vấn đề số 1. Trong điều kiện xung đột thương mại giai đoạn này, Việt Nam có thể sẽ trở thành quốc gia khai thác được lợi thế trước mắt của 1 vài FTA đã và sẽ có hiệu lực. Tuy nhiên, nếu không cẩn trọng, không kiểm soát được xuất xứ, rất có thể ta là “nạn nhân” vì bị 1 vài DN nước ngoài giả mạo xuất xứ, lừa đảo người tiêu dùng Việt hoặc trở thành “tội đồ” để DN nước ngoài giả xuất xứ Việt để tránh thuế ở 1 vài phân khúc vẫn dành ưu đãi cho hàng có xuất xứ Việt. Rủi ro sẽ vô cùng lớn.

Một khi xung đột thương mại leo thang, thuế NK tăng lên. Điều này khiến cho hàng hóa của 1 số nước trở thành đắt đỏ ở phân khúc mà Việt Nam có quan hệ đối tác. Nước bị áp thuế có thể chọn con các con phố mượn xuất xứ của Việt Nam để XK. Do đó, cần có 1 vài quy định và sau đó triển khai nghiêm ngặt, nghiêm túc, hiệu quả nhằm bảo vệ xuất xứ Việt Nam là ưu tiên danh tiếng. Đây cũng là 1 mệnh lệnh, thách thức đặt ra cho Việt Nam trong XNK.

Ngoài vấn đề trên, có 1 vài FTA, Việt Nam có thời cơ tiếp nhận đầu tư FDI tốt hơn. Các nhà đầu tư sẽ tận dụng thời cơ để sản xuất hàng XK nhưng nếu không biết điều tiết, tăng lên XK quá nhiều vào phân khúc có lợi thế FTA thì lại dẫn tới 1 vài nguy cơ cao vì bị áp dụng 1 vài 1 vàih thức chống phân phối phá giá, chống trợ cấp… Bối cảnh giai đoạn này đặt ra đòi hỏi chính sách phân phối hàng khai thác FTA nhằm tối ưu hóa lợi thế và hạn chế đến mức tối đa rủi ro cần được nghiên cứu kỹ, quan tâm đúng mức.

Xin cảm ơn ông!

Bà Trần Kim Hà, Phó trưởng Phòng Dự toán- Quản lý thu ngân sách, Cục Thuế Xuất nhập khẩu, Tổng cục Hải quan: Tiếp tục 1 vài 1 vàih thức đồng bộ để chống thất thu

Có thể thấy, việc thực hiện 1 vài cam đoan FTA nhằm lôi kéo và góp phần tăng lên đầu tư nước ngoài, giảm kinh phí đầu vào cho DN trong nước, thúc đẩy làm việc sản xuất kinh doanh và kim ngạch XK, NK. Tuy nhiên, điều này cũng khiến số thu ngân sách nhà nước từ thuế NK sụt giảm. Vì thế, ngay từ đầu năm 2018, Tổng cục Hải quan yêu cầu 1 vài đơn vị trong ngành chủ động phân tích tác động của 1 vài cam đoan hội nhập đến thu ngân sách nhà nước, từ đó quyết liệt triển khai chỉ đạo, đôn đốc tăng cường rà soát, nắm chắc nguồn thu; nghiên cứu kỹ, đề xuất và triển khai 1 vài 1 vàih thức tăng thu, chống thất thu ngân sách nhà nước. Trong đó, 1 vàih thức đưa ra là rà soát, nắm chắc tình hình nợ thuế, phân loại chi tiết 1 vài nhóm nợ, phân tích chi tiết theo từng DN, hiện trạng nợ thuế của DN, lý do và đưa ra 1 vàih thức xử lý theo đúng quy định; quyết liệt xử lý, cưỡng chế, thu hồi nợ thuế, giảm nợ đọng thuế, không để phát sinh nợ mới, không để nợ ở thời điểm mới cao hơn thời điểm cũ…

Thỏa thuận NAFTA mới có tạo ra cú hích lịch sử cho nền kinh tế Mỹ?

Bạn đang xem chuyên mục Kinh Te VI Mo Dau Tu ở CTT.EDU.VN

COMMENTS

WORDPRESS: 0
DISQUS: