Chính sách tiền lương đang là rào cản

Nhiều ý kiến cho rằng phải để công ty dùng việc trả lương bổng, thưởng như 1 công cụ trong quản trị nhân sự. Doanh nghiệp nhà nước (DNNN) được giao

Nếu kiểm soát tiêu thụ rượu bia, kinh tế Việt Nam sẽ chịu tác động ra sao?
Năm 2018, thị trường ô tô biến động mạnh
Tăng trưởng kinh tế sẽ lạc quan hơn trong quý III/2018

Nhiều ý kiến cho rằng phải để công ty dùng việc trả lương bổng, thưởng như 1 công cụ trong quản trị nhân sự.

Doanh nghiệp nhà nước (DNNN) được giao quản lý, sử dụng khối lượng tài sản lớn nhưng hiệu quả sản xuất – kinh doanh và đâyng góp vào ngân sách còn thấp. Một phần nguyên nhân từ chính sách bán hàng, cơ chế tiền lương bổng đối có lãnh đạo, người lao động (NLĐ) trong DNNN. Đến nay, còn dao động 500 DN 100% vốn nhà nước ở 11 ngành, lĩnh vực của nền kinh tế.

Chênh lệch khá lớn

Ông Đặng Quyết Tiến, Cục trưởng Cục Tài chính DN – Bộ Tài chính, chỉ ra nhiều điểm “ì” của DNNN khiến hiệu quả kinh doanh thấp: Trách nhiệm của người quản lý chưa rõ ràng; công tác cán bộ, chính sách bán hàng tiền lương bổng, thưởng chưa gắn có hiệu quả vận hành của DN theo cơ chế phân khúc. Đặc biệt, chính sách bán hàng tiền lương bổng, thưởng chưa có tác động khuyến khích NLĐ tăng năng suất lao động. Đây là điểm mấu chốt cần khắc phục sớm để nâng cao hiệu quả sản xuất – kinh doanh của khối DNNN.

Theo chính sách bán hàng hiện hành, lương bổng của NLĐ trong DNNN chưa phân biệt lợi thế ngành nghề, nguồn lực nhà nước đầu tư cho DN, dẫn đến có sự chênh lệch khá lớn giữa một vài DN ở một vài ngành nghề, lĩnh vực sản xuất – kinh doanh khác nhau. Có nơi mức lương bổng cao không hoàn toàn do năng suất lao động tạo ra.

Chính sách tiền lương bổng đang là rào cản - Ảnh 1.

Cơ chế tiền lương bổng cần tạo cho người lao động hăng hái cống hiến

Ông Hoàng Trường Giang, Phó Vụ trưởng Vụ Kinh tế tổng hợp – Ban Kinh tế trung ương, cũng nhận định tiền lương bổng, lương bổng là rào cản lớn nhất trong DNNN, hiệu quả sản xuất – kinh doanh thấp cũng xuất phát từ điểm này do không tạo được động lực đổi mới, nâng cao năng suất. Lương và lương bổng không có sự phân biệt giữa DN làm ăn tốt có DN thua lỗ. Đa phần DNNN là dựa vào doanh thu, lợi nhuận. Lợi nhuận năm sau cao hơn năm trước thì quỹ lương bổng tăng lên mà chưa gắn có hiệu quả công việc của từng cá nhân, từng NLĐ về địa điểm, năng lực.

Thay đổi cơ chế

Trong bối cảnh này, ông Hoàng Trường Giang cho rằng cần một vàih tân cơ chế để tiền lương bổng, lương bổng thực sự là động lực thúc đẩy tăng năng suất lao động trong DNNN. Cơ chế tiền lương bổng cần gắn có hiệu quả, năng suất lao động, tránh cào bằng. Đồng thời, cần có sự phân tách, phân biệt rõ ràng giữa từng lĩnh vực ngành nghề để bảo đảm ích lợi, lương bổng cho NLĐ. Ông Giang dẫn chứng ở Tập đoàn Công nghiệp – Viễn thông Quân đội (Viettel), lấy doanh thu trừ giá thành chưa bao gồm tiền lương bổng để ra lợi nhuận gộp. Quỹ lương bổng được tính trên phần lợi nhuận gộp này, nếu một vài phần khác tiết giảm giá thành thì quỹ lương bổng tăng.

Chuyên gia kinh tế Nguyễn Minh Phong lại quan tâm đến chính sách bán hàng tiền lương bổng cho cả các người đứng đầu và NLĐ sau khi cổ phần hóa và cho rằng cần có phương án cụ thể để sắp xếp cán bộ, nhất là cán bộ chủ chốt khi cổ phần hóa. “Trong bối cảnh giai đoạn này, một vài cơ chế đều phải gắn liền có hiệu quả, năng lực lao động để bảo đảm công bằng trong trả lương bổng. Đồng thời, DN sử dụng lương bổng – thưởng như 1 công cụ thực sự trong quản trị nhân sự” – ông Phong nhấn mạnh.

Ông Hoàng Trường Giang cho rằng cần một vàih tân cơ chế “khoán” theo hợp đồng cho một vài chức danh thuộc ban điều hành DN. Một số DN đã triển khai mô hình này. Theo đây, thực hiện cơ chế hợp đồng lao động đối có ban điều hành như tổng giám đốc, phó tổng giám đốc chứ không phải chọn lọc bổ nhiệm theo nhiệm kỳ như lâu nay. Quyết định bổ nhiệm theo nhiệm kỳ chỉ dành cho hội đồng thành viên. Thông qua hợp đồng lao động sẽ xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ. Các địa điểm được tuyển chọn phải đạt một vài mục tiêu, nhiệm vụ ghi trong hợp đồng, tương ứng có mức lương bổng thích hợp. Có bởi thế mới tạo ra sự một vàih tân và vận hành thực chất cho DNNN.

Trục lợi từ tài sản nhà nước

Theo ông Phạm Đức Trung, Trưởng Ban Cải một vàih và Phát triển DN (CIEM), hiện còn các hạn chế, bất cập của cơ chế quản lý, quản trị DNNN, tạo kẽ hở để hình thành nhóm lợi ích, thao túng vận hành của DNNN, tham nhũng. Ngoài ra, không có sự rõ ràng về trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân và thiếu cơ chế kiểm soát quyền lực. Cơ chế giai đoạn này chưa tạo đủ sức ép và động lực để người quản lý DNNN tối đa hóa giá trị tài sản, tiết kiệm giá thành. Do đây, người quản lý thường không đủ cẩn thận để đưa ra một vài chọn lọc đầu tư tối ưu, thậm chí còn lạm dụng để chi tiêu, trục lợi từ tài sản nhà nước.

6 một vàih tân về chính sách bán hàng tiền lương bổng

Bạn đang xem chuyên mục Kinh Te VI Mo Dau Tu ở CTT.EDU.VN

COMMENTS

WORDPRESS: 0
DISQUS: