Chuyên gia dự đoán đường đi của lãi suất thời gian tới như thế nào?

Trái ngược có hiện trạng thanh khoản dư thừa trong nửa đầu năm, lãi suất huy động và lãi suất liên ngân hàng bất ngờ tăng cao trong thời gian gần đây

Ông Đinh La Thăng nghẹn ngào nói lời sau cùng: Dù có xin lỗi ngàn lần cũng không thay đổi được sự thật đớn đau
Xét xử phúc thẩm “đại án” OceanBank từ ngày 18/4
Nợ xấu đang được “tẩy” thế nào?

Trái ngược có hiện trạng thanh khoản dư thừa trong nửa đầu năm, lãi suất huy động và lãi suất liên ngân hàng bất ngờ tăng cao trong thời gian gần đây. Diễn biến này xảy ra khá sớm so có mọi năm khi bình thường phải đến những tháng cuối năm mới xuất hiện khi nhu cầu vốn tăng cao. Vậy lý do gì đã đẩy lãi suất tăng trong thời gian này?

Không chỉ những ngân hàng nhỏ mà nhiều ngân hàng lớn cũng đã “nhập cuộc”, tăng lãi suất huy động tiền gửi trong thời gian vừa qua. Trên phân khúc liên ngân hàng, thanh khoản có phần eo hẹp trong nhiều tuần liền đã đẩy lãi suất tăng cao, lên trên 4% trong suốt hơn 6 tuần.

Xu hướng này xuất phát từ lý do gì và lối đi của lãi suất trong thời gian tới sẽ ra sao? Chúng tôi đã có cuộc thảo luận có chuyên gia tài chính- Tiến sĩ Nguyễn Đức Độ để làm rõ vấn đề này.

PV: Thưa ông, tại sao lại xuất hiện xu hướng lãi suất huy động và liên ngân hàng cộng tăng cao trong thời gian gần đây?

TS. Nguyễn Đức Độ: Có 3 nhân tố được coi là những lý do chính dẫn đến xu hướng tăng lãi suất thời gian qua. Thứ nhất, lý do được nhắc đến nhiều nhất là việc lạm phát có xu hướng tăng. Yếu tố thứ hai là tỷ giá. Khi tỷ giá tăng nhanh trong 1 thời gian ngắn, người dân và công ty có xu hướng giảm nắm giữ VND, tăng găm trữ USD, đồng thời NHNN cũng phải tăng lãi suất để hạn chế hiện trạng đầu cơ ngoại tệ. Bên cạnh đây, chính sách phân phối hàng giảm mật độ vốn ngắn hạn được phép sử dụng để cho vay dài hạn cũng là lý do dẫn đến nhu cầu huy động vốn dài hạn của những tổ chức tín dụng tăng thêm.

Ngoài ra, còn 1 lý do khác ít được nhắc đến hơn là tốc độ tăng dự trữ ngoại hối quá nhanh của NHNN. Theo số liệu của Ngân hàng Thế giới, chỉ trong vòng hơn 2 năm qua, dự trữ ngoại hối của Việt Nam đã tăng từ mức 28 tỷ USD vào cuối năm 2015 lên mức 63 tỷ USD vào giữa năm 2018 – tức đã tăng thêm 35 tỷ USD.

PV: Ông có thể nói cụ thể hơn về lý do thứ 3 không?

TS. Nguyễn Đức Độ: Để mua vào khoảng 35 tỷ USD, NHNN đã bơm ra phân khúc hơn 700 nghìn tỷ đồng. Lúc đầu lượng VND được cung ra phân khúc có tác động làm tăng thanh khoản của hệ thống ngân hàng và khiến cho lãi suất VND giảm. Thậm chí những NHTM còn đua nhau mua TPCP, khiễn lãi suất TPCP kỳ hạn 5 năm giảm sâu xuống mức dưới 3%/năm.

Tuy nhiên, khi lượng tiền đồng trên phân khúc quá nhiều, NHNN đã phải thực hiện biện pháp trung hoà bằng nhữngh phát hành tín phiếu. Gọi là trung hoà, nhưng về bản chất là NHNN đã in tín phiếu để đổi lấy USD.

Khi lượng tín phiếu trên phân khúc càng ngày càng nhiều, những NHTM sẽ đòi hỏi mức lãi suất càng ngày càng cao. Trong nhiều tháng gần đây những NHTM có vẻ ưa thích nắm giữ tín phiếu của NHNN có lãi suất cao và kỳ hạn ngắn hơn là mua TPCP. Điều này khiến lãi suất TPCP liên tục tăng cao, đồng thời mật độ trúng thầu cũng càng ngày càng giảm. Khi lãi suất tín phiếu cao, những lãi suất khác cũng bị ảnh hưởng theo. Bên cạnh đây, lượng USD càng ngày càng ít trên phân khúc cũng tạo sức ép lên tỷ giá, nhất là khi cầu đầu cơ tăng trở lại do đồng nhân dân tệ giảm giá trong những tháng gần đây.

PV: Với những lý do kể trên, theo ông, lối đi của lãi suất trong thời gian tới sẽ như thế nào?

TS. Nguyễn Đức Độ: Lạm phát so có cộng kỳ năm trước, theo tôi, đã đạt đỉnh vào tháng 6 năm nay và nhiều khả năng sẽ tiếp tục giảm trong thời gian tới vì giá xăng dầu và giá thịt lợn sẽ khó tăng mạnh sau khi đã đạt mức cao. Mặc dù lạm phát căn bản có xu hướng tăng trong 2 tháng qua do tác động của tỷ giá, nhưng sẽ vẫn ở mức dưới 2% trong trung hạn, nếu tỷ giá được điều hành ổn định trong thời gian tới. Vì lạm phát tổng thể sẽ xoay quanh lạm phát căn bản trong trung-dài hạn, nên sức ép của lạm phát lên lãi suất trong thời gian tới sẽ giảm dần.

Về chính sách phân phối hàng giảm mật độ vốn ngắn hạn được phép sử dụng để cho vay dài hạn, khả năng NHNN sẽ không đình trệ thêm nữa. Tỷ lệ tín dụng so có GDP của Việt Nam hiện đã đạt mức 130%, thuộc hàng cao trên địa cầu, nên bất kỳ rủi ro nào liên quan đến tín dụng, trong đây có rủi ro về kỳ hạn, cũng cần được lưu ý. Bởi vậy, sức ép lên lãi suất dài hạn khả năng sẽ khó giảm.

Về tỷ giá, mặc dù khó có thể đoán định về xu hướng của những đồng tiền trên địa cầu trong thời gian tới, nhưng thông điệp của NHNN là rất quan trọng. Nếu NHNN kiên nhẫn điều hành tỷ giá có mục tiêu chắc chắn ổn định kinh tế vĩ mô, thì sức ép của tỷ giá lên lãi suất sẽ không lớn. Nhưng nếu thông điệp của NHNN được hiểu là điều hành tỷ giá theo tín hiệu phân khúc, thì tình hình sẽ phức tạp, khó dự báo hơn nhiều.

PV: Chính phủ có định hướng tiếp tục ổn định và phấn đấu giảm lãi suất trong thời gian tới. Theo ông, NHNN sẽ có biện pháp gì để đạt được mục tiêu trên?

TS. Nguyễn Đức Độ: Bối cảnh GĐ này có nhiều điểm tương đồng có GĐ cuối năm 2015. Trong GĐ đây, trước việc sức ép lên cả lãi suất và tỷ giá cộng tăng thêm, NHNN đã phân phối USD ra phân khúc (dự trữ ngoại hối giảm từ mức 37 tỷ USD vào giữa năm 2015 xuống còn 28 tỷ USD vào cuối năm 2015), đồng thời thu về 1 lượng lớn tín phiếu đã phát hành trước đây. Giải pháp này đã giúp ổn định tỷ giá và lãi suất trong cả năm 2016. Tuy nhiên, việc NHNN mua quá nhiều USD trong năm 2017 và nửa đầu năm 2018 đã dẫn đến sức ép lên tỷ giá và lãi suất quay trở lại.

Ngoài ra, việc NHNN chuyển nhượng USD kỳ hạn cũng là 1 biện pháp giúp ổn định kỳ vọng về tỷ giá, lạm phát và lãi suất trong năm 2016. Nếu NHNN mở phân phối tỷ giá kỳ hạn mỗi ngày cộng có tỷ giá trọng điểm và tỷ giá chuyển nhượng USD giao ngay, phân khúc sẽ có thêm 1 chiếc neo trong bối cảnh những đồng tiền trên địa cầu biến động khó lường, mặc dù chiếc neo này không còn cố định như trước đây.

PV: Xin cảm ơn ông!

Bình thường hóa lãi suất cao

Bạn đang xem chuyên mục tai chinh ngan hang của CTT.EDU.VN

COMMENTS

WORDPRESS: 0
DISQUS: 0