Chuyên gia gợi ý đối với việc đánh giá, thống kê và quản lý khu vực “kinh tế chưa được quan sát” của Việt Nam

Tương tự 1 số nước trên địa cầu, theo đánh giá của Tổng cục thống kê, việc đánh giá, đo lường, thống kê và kiểm soát khu vực NOE của Việt Nam là 1 th

Ông Trump đánh thuế Trung Quốc: Tỉ phú ‘chạy’ vào Việt Nam
“10 cuộc họp Thường trực Chính phủ thì 7 cuộc xử lý việc cũ”
Năm 2030 Hải Phòng sẽ là thành phố công nghiệp tầm cỡ Đông Nam Á

Tương tự 1 số nước trên địa cầu, theo đánh giá của Tổng cục thống kê, việc đánh giá, đo lường, thống kê và kiểm soát khu vực NOE của Việt Nam là 1 thách thức lớn đối có ngành thống kê.

LTS: TS. Cấn Văn Lực cộng Nhóm tác giả ở Viện Đào tạo và Nghiên cứu BIDV vừa cho ra mắt “Báo cáo tóm tắt về Kinh nghiệm địa cầu về đánh giá khu vực kinh tế chưa được quan sát và 1 số gợi ý có Việt Nam”.

Báo cáo này tham khảo bí kíp quốc tế trong việc đánh giá, đo lường và quản lý khu vực NOE; từ đó đưa ra 1 số gợi ý đối có việc đánh giá, đo lường và quản lý khu vực kinh tế chưa được quan sát (Non-Observed Economy – NOE) của Việt Nam.

Tại phần 1 của báo cáo, chúng tôi đã đăng tìm hiểu của nhóm tác giả về việc Thế giới đang xác định, đo lường và quản lý nền kinh tế chưa được quan sát ra sao.

Và hôm nay xin được đăng tải Phần 2: Gợi ý đối có việc đánh giá, thống kê và quản lý khu vực “kinh tế chưa được quan sát” của Việt Nam để quý độc giả cộng theo dõi.

———–

Gợi ý đối có việc đánh giá, thống kê và quản lý khu vực “kinh tế chưa được quan sát” của Việt Nam

Ngày 01/02/2019, Chính phủ đã phê duyệt Đề án thống kê khu vực NOE. Mục tiêu đề ra của đề án nhằm: (a) Đánh giá kết quả sản xuất kinh doanh của khu vực NOE nhằm phản ánh đầy đủ, toàn diện hơn phạm vi, diện tích của nền kinh tế; b) Tiếp tục đổi mới, đã đi vào hoạt động chuyên môn nghiệp vụ thống kê nhìn chung và nghiệp vụ biên soạn tài khoản quốc gia nói riêng, từng bước tiếp cận 1 số chuẩn mực, thông lệ thống kê quốc tế; c) Góp phần bổ sung đã đi vào hoạt động hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách bán hàng, nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước đối có nền kinh tế.

Theo đó, khu vực NOE chuẩn bị được phân thành 5 nhómhoạt động gồm: kinh tế ngầm, kinh tế bất hợp pháp, kinh tế phi chính thức chưa được quan sát, kinh tế tự sản, tự tiêu của hộ gia đình, và hoạt động kinh tế bị bỏ sót trong 1 số chương trình thu thập dữ liệu thống kê. Các 1 sốh thức chuẩn bị được sử dụng gồm: 1 sốh thức thống kê trực tiếp, 1 sốh thức gián tiếp hoặc ước lượng bằng 1 sốh thức lập mô hình kinh tế vĩ mô (đối có việc đo lường hoạt động kinh tế ngầm và kinh tế bất hợp pháp) và 1 sốh thức sản xuất (đối có việc cập nhất kết quả sản xuất kinh doanh của khu vực NOE khi biên soạn 1 số chỉ tiêu tài khoản quốc gia).

Tương tự 1 số nước trên địa cầu, theo đánh giá của Tổng cục thống kê, việc đánh giá, đo lường, thống kê và kiểm soát khu vực NOE của Việt Nam là 1 thách thức lớn đối có ngành thống kê. Thí dụ, kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Trung Quốc do Tổng cục Thống kê ra mắt năm 2017 thấp hơn số liệu của Trung Quốc ra mắt là 26,2 tỷ USD cho thấy 1 số hoạt động buôn bán tiểu ngạch qua biên giới Việt – Trung không hề nhỏ. Theo kết quả điều tra kinh tế năm 2017 của Tổng cục thống kê, có hơn 5.144 triệu cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể phi nông nghiệp, được xếp vào dạng kinh tế phi chính thức. Trong đó, có 581.700 hộ kinh doanh chưa được đưa vào diện quản lý thuế, công ty sử dụng hệ thống hai sổ sách hoặc 1 số hoạt động kinh tế không có đăng ký về mặt pháp lý không được tổng hợp trong hệ thống 1 số chỉ tiêu chính thức của nền kinh tế thì người lao động trong khu vực này không được hưởng 1 số ích lợi, nghĩa vụ trong hệ thống phúc lợi xã hội (bảo hiểm, thai sản..); 1 số hoạt động đánh bạc, hoạt động mại dâm, hoạt động tín dụng đen đang có đến hệ lụy không nhỏ về cả kinh tế và xã hội. Như trên đã nêu, diện tích của khu vực NOE ở Việt Nam năm 2015 tương đương 14,78% GDP. Thực tế, diện tích này có thể lớn hơn nhiều.

Trên cơ sở tìm hiểu bí kíp quốc tế và qua đánh giá nêu trên, nhóm tác giả xin gợi ý 1 số nội dung để thực hiện hiệu quả việc đánh giá, đo lường và quản lý khu vực NOE của Việt Nam như dưới đó.

Thứ nhất, cần định nghĩa và phân loại 1 số nhóm hoạt động khu vực NOE thích hợp có nguyên tắc quốc tế và bối cảnh của Việt Nam. Việc tìm hiểu, đánh giá và ước lượng diện tích khu vực NOE là cần thiết nhằm cung cấp tài liệu chính xác về nền kinh tế, góp phần tăng nguồn thu ngân sách và hỗ trợ hoạch định cơ chế, chính sách bán hàng và phân bổ nguồn lực hiệu quả hơn. Theo đó, cần định nghĩa và phân loại 1 số nhóm hoạt động khu vực NOE thích hợp có nguyên tắc quốc tế, tham khảo việc đo lường 1 số hoạt động kinh tế ngầm, kinh tế bất hợp pháp trong quan sát diện tích khu vực NOE. Hiện nay, 1 số tìm hiểu của WB và IMF không đưa kinh tế bất hợp pháp, tội phạm vào khu vực NOE, nhưng 1 số nước EU đã đưa khu vực kinh tế bất hợp pháp vào tính toán GDP thực. Việt Nam nên theo 1 sốh tiếp cận của WB và IMF.

Thứ hai, chọn lọc 1 sốh thức đo lường thích hợp có mỗi loại hình hoạt động của khu vực NOE. Căn cứ vào định nghĩa và phân loại khu vực NOE, chọn lọc 1 sốh thức, mô hình đánh giá khu vực NOE thích hợp có đặc điểm nền kinh tế Việt Nam và từng lĩnh vực hoạt động của khu vực NOE, so sánh kết quả giữa 1 số 1 sốh thức, mô hình để sai số ở mức tối thiểu, đồng thời tham khảo, so sánh có 1 số kết quả tìm hiểu, đánh giá của 1 số tổ chức quốc tế như IMF, WB. Theo đó, để đo lường diện tích khu vực NOE, Việt Nam có thể sử dụng 1 sốh thức mô hình MIMIC hiện đang được IMF và WB sử dụng do kết quả của 1 sốh thức này có kết quả khá sát có số liệu của 1 số cơ quan thông kê, đồng thời phối hợp có 1 sốh thức khảo sát trực tiếp hoặc đo lường gián tiếp. Các 1 sốh thức khác như 1 sốh thức đầu vào vật lý hay 1 sốh thức cầu tiền tệ… khá phức tạp để đo lường và ứng dụng. Kết quả đo lường từ 1 số 1 sốh thức khác nhau cần so sánh, đánh giá kết quả; từ đó chọn lọc 1 sốh thức đo lường thích hợp và kết quả đo lường cần được cập nhật hàng năm.

Thứ ba, đánh giá 1 số lý do, nhân tố tác động đến sự phát triển của khu vực NOE như gánh nặng thuế, giá thành an sinh xã hội, đạo đức thuế, hiệu quả của thể chế, mức độ tham nhũng, 1 số quy định (về lao động, về hải quan, chi trả không dùng tiền mặt..), chất lượng dịch vụ công, mức độ phát triển của nền kinh tế…; từ đó đưa ra 1 số chính sách bán hàng, định hướng và 1 sốh thức nhằm kiểm soát và quản lý khu vực NOE.

Thứ tư, cân nhắc phương án đưa kết quả đo lường khu vực NOE (không bao gồm khu vực kinh tế bất hợp pháp) vào GDP nhằm phản ánh đầy đủ diện tích nền kinh tế thực, từ đó đưa ra 1 số chính sách bán hàng, 1 sốh thức quản lý và phát triển nền kinh tế hiệu quả hơn. Tuy nhiên, việc xác định, chọn lọc 1 số hoạt động khu vực NOE thích hợp để thu thuế là khá phức tạp, trong khi việc đưa khu vực NOE vào GDP sẽ làm tăng diện tích nền kinh tế, từ đó 1 số giới hạn như mật độ bội chi ngân sách/GDP, nợ công/GDP sẽ nới rộng, gây rủi ro trước mắt và lâu dài cho nền kinh tế. Khi đó, cần sử dụng 1 số mật độ có so có GDP (như bội chi ngân sách, nợ công, nợ Chính phủ, nợ nước ngoài….) cần điều chỉnh ngưỡng và có công đoạn thích hợp. Quan trọng hơn cả là từ đó, cần có 1 sốh thức kiểm soát, quản lý khu vực NOE cũng như phân bổ nguồn lực hợp lý, hiệu quả hơn.

Thứ năm, trêncơ sở bí kíp quốc tế, nhóm tác giả gợi ý 1 số cơ chế, chính sách bán hàng và 1 sốh thức nhằm kiểm soát, quản lý khu vực NOE ở Việt Nam như sau:

(i) Tiếp tục đẩy mạnh cải 1 sốh, đã đi vào hoạt động thể chế, cải thiện môi trường kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi đối có người dân và công ty trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, để khuyến khích họ tham dự vào khu vực kinh tế chính thức nhiều hơn.

(ii) Xây dựng và nhất quán thực hiện cơ chế, chính sách bán hàng, 1 sốh thức dài hạn nhằm tạo điều kiện để 1 số chủ thể đang kinh doanh không chính thức chuyển đổi sang kinh doanh chính thức. Theo đó, đối có 1 số hộ kinh doanh cá thể, việc chuyển đổi thành công ty nhỏ chẳng thể là ép buộc; mà thay vào đó, cần đơn giản hóa thủ tục chuyển đổi; có chính sách bán hàng ưu đãi về thuế; đơn giản hóa nguyên tắc về sổ sách kế toán; cung cấp dịch vụ hỗ trợ, giải đáp để họ có thể hoạt động công ty suôn sẻ…v.v.

(iii) Tiếp tục đẩy mạnh cải 1 sốh thuế, đơn giản hóa, minh bạch thủ tục thuế; tăng cường ứng dụng công nghệ đối có thủ tục đăng ký, nộp và quản lý thuế nhằm tạo thuận lợi đối có người nộp thuế; tăng cường củng cố 1 số chuẩn mực xã hội về tính tuân thủ nộp thuế và siết chặt kiểm soát và nâng cao mức xử phạt hành vi trốn thuế (gồm cả hành vi chuyển giá) và lợi ích nhóm trong thu thuế, tạo tính công bằng hơn trong nghĩa vụ thuế và nộp thuế.

(iv) Tiếp tục triển khai 1 số 1 sốh thức thực hiện Đề án 2545 (năm 2016) của Chính phủ về phát triển chi trả không dùng tiền mặt của Chính phủ, trong đó, tiếp tục đẩy mạnh chi trả điện tử trong khu vực Chính phủ, dịch vụ hành chính công (gồm cả công tác thuế); triển khai ứng dụng công nghệ chi trả số mới (như ngân hàng số, Fintech, ví điện tử…); ban hành và nhất quán ứng dụng hạn mức được chi trả bằng tiền mặt (thí dụ 20 triệu đồng) cũng có cơ chế khuyến khích chi trả không dùng tiền mặt (như miễn phí chuyển nhượng có thời hạn đối có chuyển nhượng giá trị nhỏ); có 1 sốh thức cụ thể nhằm tăng niềm tin của người tiêu dùng đối có chi trả số (ưu tiên nâng cấp hạ tầng công nghệ chi trả, quan tâm an ninh mạng, giải quyết nhanh khi sự cố xảy ra…).

(v) Nâng cao nhận thức và hiểu biết của người dân và công ty về 1 số hoạt động thuộc khu vực NOE thông qua 1 số hoạt động tuyền truyền, giáo dục, minh bạch về 1 số ích lợi, nghĩa vụ khi tham dự vào khu vực chính thức; tăng cường giáo dục tài chính, giải đáp người tiêu dùng trong chi trả không dùng tiền mặt…v.v.

(vi) Triển khai 1 số 1 sốh thức chế tài mạnh đối có 1 số hoạt động kinh tế bất hợp pháp; theo đó, cần đã đi vào hoạt động 1 số quy định về xử phạt hành chính thích hợp hơn, truy cứu trách nhiệm hình sự đối có 1 số hoạt động bất hợp pháp; tăng cường chia sẻ tài liệu thống kê khu vực NOE giữa 1 số bộ ngành, địa phương; đồng thời, tăng cường hợp tác quốc tế về thống kê, kiểm soát hoạt động phi pháp, buôn lậu, rửa tiền, tài trợ khủng bố…v.v.

Thế giới đang xác định, đo lường và quản lý “nền kinh tế chưa được quan sát” như thế nào?

Bạn đang xem chuyên mục Kinh Te VI Mo Dau Tu ở CTT.EDU.VN

COMMENTS

WORDPRESS: 0
DISQUS: