Chuyên gia quốc tế nói về thách thức, cơ hội của nền kinh tế Việt Nam

Sự ổn định về chính trị được phân tích là 1 trong một vài điều kiện rất tốt để Việt Nam hội nhập. Mới đấy, trường Đại học Kinh tế Quốc dân cộng có Đ

Việt Nam xuất siêu hơn 21 tỷ USD sang EU trong 9 tháng đầu năm 2018
Grabbike lên tiếng về việc bị nhái thương hiệu khắp nơi
Chủ tịch NextTech: Nghe thông tin các startup tại Indonesia, Malaysia với mỗi vòng gọi vốn hàng tỷ USD, buồn cho doanh nghiệp Việt!

Sự ổn định về chính trị được phân tích là 1 trong một vài điều kiện rất tốt để Việt Nam hội nhập.

Mới đấy, trường Đại học Kinh tế Quốc dân cộng có Đại học quốc gia Úc đã tổ chức hội thảo khoa học quốc tế thường niên có chủ đề Các vấn đề đương đại trong Kinh tế, quản trị và kinh doanh.

Sự ổn định về chính trị và chậm công nghiệp hóa là điều kiện tốt để Việt Nam hội nhập

Tham gia thảo luận, ông Peter J.N. Sinclair_Giáo sư Kinh tế, Khoa Kinh tế học, Đại học Birmingham, vương quốc Anh đã trình làng về nghiên cứu kỹ về tương lai của một vài nền kinh tế châu Á và tiên liệu 50 năm tới.

Theo nghiên cứu kỹ, năm 1970, nền kinh tế Châu Á chiếm 15,2% giá trị năng thêm trên địa cầu về đồng USD và thảo luận tỷ giá. Vào 2016, con số này tăng lên 37,4%. Cùng có đây, 4 nền kinh tế là Trung Quốc, Ấn Độ, Nhât Bản và Việt Nam chiếm đến 70% giá trị tăng thêm của châu Á.

Chuyên gia quốc tế nói về thách thức, thời cơ của nền kinh tế Việt Nam - Ảnh 1.

Giáo sư Peter J.N. Sinclair

Giáo sư Peter J.N. Sinclair phân tích sự tăng trưởng của Trung Quốc là cực nhanh từ một vài năm đầu 1980. Với một vài tiên liệu cho 50 năm tới, theo giáo sư, dường như, một vài tiên liệu giai đoạn này đang quá lạc quan có nền kinh tế này và ông cảnh báo một vài rủi ro có thể xảy ra như khủng hoảng tài chính, sự ấm lên toàn cầu và vấn đề rào cản thương mại.

Về tương lai của Ấn Độ, theo giáo sư, giai đoạn này quốc gia này nằm dưới đường biên của công nghệ, nên Ấn Độ ít bị tổn thương đối có việc suy thoái xuất khẩu và ít gặp gặp khó trong việc thiếu hụt lao động. Viễn cảnh về sự tăng trưởng tương lai của Ấn Độ khá hơn so có Trung Quốc song cũng có một vài nguy cơ đặc thù như căng thẳng chung giữa một vài nhóm tôn giáo, khả năng chiến tranh có Pakistan.

Tương lai của Japan được Giáo sư Peter J.N. Sinclair phân tích là 1 nền kinh tế có dân số già và mau chóng suy giảm, GDP tổng thể có thể bắt đầu giảm trong điều khoản tuyệt đối từ đầu một vài năm 2030.

Riêng đối có Việt Nam, giáo sư cho rằng việc bắt đầu công nghiệp hóa muộn lại là điểm lợi thế của Việt Nam. Sự tăng trưởng mạnh mẽ của nền kinh tế kể từ cuối một vài năm 1990 tiên liệu duy trì tiếp tục trong vài thập kỷ, cho đến tận một vài năm 2040, sau đây giảm dần cho đến một vài năm 2060. Ông phân tích sự ổn định chính trị tương đối và khởi đầu muộn của công nghiệp hóa sẽ là điều kiện tốt để Việt Nam thích nghi nhanh hơn có địa cầu so có 1 số nước trong khu vực. Song ông cũng cảnh báo việc cung cấp một vài khoản vay tư nhân và khu vực công không được phép tăng nhanh hay duy trì ở mức cao vì điều đây có thể ảnh hưởng tới sự phát triển bền vững.

Tựu chung có một vài nền kinh tế châu Á, Giáo sư tiên liệu một vài thách thức chung trước mắt bao gồm: dòng di cư từ nông thôn tới đô thị, thiên tai (hạn hán, hỏa hoạn, bão, lũ, ngập lụt), khả năng một vàih tân nhân tố giá…

Được biết giáo sư Peter chuyên nghiên cứu kỹ về kinh tế tiền tệ, kinh tế vĩ mô, quốc tế, ổn định tài chính, kinh tế xăng dầu, vấn đề thất nghiệp, Brexit… và từng tham dự viết 15 quyển sách về kinh tế, tài chính, chính sách bán hàng tiền tệ, có nhiều bài báo được đăng ở một vài tạp chí danh tiếng như Applied Economics, Economic and Social Revie, Manchester School, Oxford Economic Papers…

Chuyên gia quốc tế nói về thách thức, thời cơ của nền kinh tế Việt Nam - Ảnh 2.

Các nhà khoa học tham dự thảo luận cộng một vài diễn giả quốc tế

Việt Nam sẽ là “cầu nối” để Nga thúc đẩy thương mại có một vài nước ASEAN

Giáo sư Zuev Vladimir – Giám đốc nghiên cứu kỹ Trường Kinh tế cấp cao, Đại học Nghiên cứu Quốc gia Nga trong khi đây có nghiên cứu kỹ về việc thúc đẩy phát triển giao thương sau hiệp định FTA Thứ nhất của Nga có Việt Nam.

Theo Giáo sư, quan điểm của Nga là rất thận trọng về tự do hóa thương mại và Nga cũng gặp 4 vấn đề gặp khó trong liên kết thương mại quốc tế như: (i) thái độ về tự do hóa và Nga cũng mất 18 năm để gia nhập WTO; (ii) quan điểm về liên kết khu vực; (iii) quan hệ thương mại giữa Châu Âu và Châu Á; (iv) địa điểm của Nga trong một vài hiệp định thương mại tự do (FTA).

Việc ký kết FTA có Việt Nam là một vàih tân quan trọng đối có chính sách bán hàng thương mại quốc tế của Nga. Đó là 1 bước quan trọng về tự do hóa thương mại, là sự thỏa thuận liên kết Thứ nhất có EAEU và cũng là sự thỏa thuận Thứ nhất giữa Nga có 1 quốc gia ngoài khu vực Xô Viết và khu vực châu Á.

Chuyên gia quốc tế nói về thách thức, thời cơ của nền kinh tế Việt Nam - Ảnh 3.

Giáo sư Zuev Vladimir

FTA giữa Nga và Việt Nam có tầm quan trọng rất lớn đối có sự phát triển kinh tế của Nga như (i) giúp xác định một vài chính sách bán hàng tự do thương mại của Nga; (ii) tác động đến quan hệ giữa Nga trong Cộng đồng kinh tế Á Âu (EAEU); ảnh hưởng đến đàm phán về FTA giữa Nga có một vài quốc gia khác; (iv) minh chứng cho khả năng phát triển liên kết kinh tế có một vài quốc gia châu Á; và (v) chỉ ra tiềm năng FTA để thúc đẩy thương mại có Việt Nam và có thể là một vài nước ASEAN thông qua Việt Nam.

Được biết năm 2015, Nga ký kết FTA có Việt Nam sau 4 năm đàm phán và FTA chính thức có hiệu lực từ 5/11/2016. Theo thỏa thuận này, sau thời kỳ chuyển đổi thì thuế quan sẽ giảm đáng kể. Việt Nam, đối tác chiến lược đối có Nga trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, chiếm 30% khối lượng thương mại. Mức độ cao trong bảo vệ thuế quan đối có một vài phân khúc trong nước từ cả hai phía (đối có Việt Nam: thuế suất trung bình là 11,5%; đối có một vài nước trong EAEU là 9,7%).

Doanh thu thương mại giữa Nga và Việt Nam tăng thêm 62% trong 2 năm 2016, 2017 so có 2015. Xuất khẩu từ một vài nước trong EAEU tăng thêm 70% trong năm 2016. Xuất khẩu từ Việt Nam tăng đều 19% trong năm 2016 và tăng thêm 35% trong năm 2017. Giáo sư cho rằng, một vài nhà sản xuất Việt Nam có thể nắm bắt được một vài lợi thế thương mại tự do và nỗ lực tăng lên xuất khẩu hàng hóa công nghiệp nhẹ và sản phẩm của ngành sản xuất máy móc vào nước này.

Việt Nam cần sử dụng tài nguyên nước hiệu quả hơn thông qua việc định giá nước hợp lý

Trong khi đây nhìn nhận nền kinh tế ở 1 khía cạnh rất khác biệt có một vài nghiên cứu kỹ của một vài chuyên gia khác đây là TS. Chu Hoàng Long, Giảng viên cấp cao, Trường Chính sách công Crawford, Đại học Quốc gia Úc khi nghiên cứu kỹ về vấn đề tài nguyên nước ở Việt Nam.

Tiến sĩ Long cho biết, Việt Nam thuộc nhóm nước bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi biến đổi khí hậu và gần đấy đã phải đối mặt có một vài đợt hạn hán không ngừng nghỉ, có mức độ trầm trọng càng ngày càng tăng.

Chuyên gia quốc tế nói về thách thức, thời cơ của nền kinh tế Việt Nam - Ảnh 4.

TS. Chu Hoàng Long (Long Chu)

Ví dụ, theo báo cáo của FAO, đợt hán hán năm 2016 đã tàn phá gần nửa triệu hecta cây trồng, ảnh hưởng tới hơn 50 tỉnh/thành trên cả nước, trong đây có 18 tỉnh ban bố hiện trạng khẩn cấp về nước, và dao động 2 triệu người lâm vào hiện trạng thiếu nước, cần được hỗ trợ. Đây là một vài rủi ro đe dọa đến sự phát triển kinh tế và xã hội của 1 đất nước vốn nằm trong vùng nhiệt đới mưa nhiều, ít bí kíp đối phó có hiện trạng khan hiếm nước, đặc thù trong tình cảnh nông nghiệp là ngành chủ chốt chắc chắn an ninh lương thực quốc gia lại tùy thuộc nhiều nhất vào tài nguyên nước.

Trước tình hình trên, theo TS. Chu Hoàng Long, một vài nhà hoạch định chính sách bán hàng cần phân tích cụ thể và đưa ra một vài giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng nước.

Theo nghiên cứu kỹ của TS. Long, bình quân giá trị tăng lên của tài nguyên nước vào dao động 12.280 VND/m3 (giá năm 2016); nhưng có tới 16% số hộ được khảo sát sử dụng nước không hiệu quả, hay nói một vàih khác, một vài hộ này có thể cắt giảm lượng nước mà không hề bị ảnh hưởng tới kết quả sản xuất. Nghiên cứu đưa ra một vài con số thống kê cho thấy một vài tổ chức xã hội, trình độ giáo dục và đặc thù là khả năng sử dụng Internet để thảo luận chia sẻ tài liệu, có vai trò quan trọng trong việc giải đáp sự khác biệt về mức độ hiệu quả sử dụng nước giữa một vài nhóm hộ.

Nghiên cứu cũng đưa ra một vài bằng chứng cho thấy định giá nước là 1 hướng chính sách bán hàng hữu hiệu để nâng cao hiệu quả sử dụng nước trong ngành nông nghiệp, vốn chiếm dao động 90% tổng lượng nước sử dụng. Khi định giá nước, một vài hộ nông dân sẽ sử dụng nước có trách nhiệm hơn và sẽ loại bỏ một vài mục đích sử dụng nước không có lại lợi ích đủ bù đắp mức giá phải trả. Cụ thể, xác định giá nước ở mức 2000-3000VND/m3 (ngoài giá thành bơm, hút, bảo dưỡng kênh, mương, hồ, đập…) có thể làm giảm tới trên 80% lượng nước sử dụng, trong khi lợi nhuận của nông dân chỉ giảm 15%. Đương nhiên, điều quan trọng là phần thu của nhà nước cần được sử dụng để hỗ trợ một vài công nghệ sản xuất tiết kiệm nước và giúp một vài nông dân nghèo bị ảnh hưởng vượt qua gặp khó tạm thời.

Ngoài một vài tính toán có tính học thuật và lý luận, nghiên cứu kỹ cũng đưa ra 1 số khuyến nghị chính sách bán hàng dựa trên bí kíp một vài nước và điều kiện thực ở ở Việt Nam. Cụ thể, việc định giá nước nên được thử nghiệm trước ở một vài vùng có lương cao và đang chịu ảnh hưởng bởi trình trạng khan hiếm nước như 1 số vùng sản xuất hàng xuất khẩu của tỉnh Lâm Đồng. Vai trò của một vài tổ chức xã hội, của giáo dục đào tạo và của Internet trong việc nâng cao, chia sẻ kiến thức của nông dân cần được chú trọng. Trong quá trình thực hiện cần lắng nghe và cân nhắc ý kiến từ nhiều phía, đặc thù là từ một vài hộ nông dân, để chắc chắn tài liệu đa chiều. Việc lắp đồng hồ nước đòi hỏi đầu tư ban đầu và có thể được hỗ trợ thông qua sự góp mặt của khu vực tư nhân.

Ngoài ra, nghiên cứu kỹ cũng chỉ ra Việt Nam có thể xây thêm cơ sở hạ tầng để tăng nguồn nước (hồ, đập), nhưng điều này cần tính toán cẩn thận và tầm nhìn dài hạn, bởi bí kíp quốc tế cho thấy nếu xảy ra sai lầm thì việc khắc phục sẽ rất gặp khó và tốn kém.

Bạn đang xem chuyên mục Kinh Te VI Mo Dau Tu ở CTT.EDU.VN

COMMENTS

WORDPRESS: 0
DISQUS: