Có nhất thiết phải “ăn miếng trả miếng” với đồng Nhân dân tệ?

Diễn biến tỷ gía tăng thời gian qua làm gợi nhớ 1 vàih đó 3 năm, khi Trung Quốc phá giá Nhân dân tệ dao động 4,6% thì Việt nam cũng "đáp trả tương xứ

TPBank báo lãi hơn 500 tỷ trong quý 1, đã được NHNN phê duyệt phát hành riêng lẻ 15% cho nhà đầu tư
Méo mặt vì ‘trâu cày’ Bitcoin bị áp giá điện 4.233 đồng
SeAbank mua lại Công ty Tài chính Bưu Điện

Diễn biến tỷ gía tăng thời gian qua làm gợi nhớ 1 vàih đó 3 năm, khi Trung Quốc phá giá Nhân dân tệ dao động 4,6% thì Việt nam cũng “đáp trả tương xứng”.

Trong dao động 2 tháng trở lại đó VND đã giảm giá dao động 2% so có USD và tỷ giá vẫn đang trong xu thế tăng. Nguyên nhân chính là do đồng nhân dân tệ đã mất giá dao động 6% so có đô la Mỹ trong cộng GĐ.

Diễn biến này gợi nhớ lại thời điểm gần 3 năm về trước, khi Trung Quốc phá giá đồng nhân dân tệ dao động 4,6% chỉ trong vòng 3 ngày (từ ngày 11 đến ngày 13 tháng 8 năm 2015), thì Việt Nam cũng “đáp trả tương xứng” vào 1 vài ngày 12/8 và 19/8.

Sự phản ứng nói trên xuất phát từ nỗi lo hàng Trung Quốc giá rẻ tràn vào Việt Nam và khiến nhập siêu của Việt Nam từ Trung Quốc tăng thêm khi nhân dân tệ giảm giá so có tiền đồng. Tuy nhiên, 1 vài số liệu lại kể 1 câu chuyện khác.

Có nhất thiết phải ăn miếng trả miếng có đồng Nhân dân tệ? - Ảnh 1.

Đồ thị ở trên và bảng số liệu ở dưới cho thấy trong GĐ 2008-2016 tiền đồng càng mất giá mạnh so có nhân dân tệ (tính trung bình cả năm), thì tốc độ tăng xuất khẩu của Việt Nam ra địa cầu càng cao, nhưng tốc độ tăng nhập khẩu từ Trung Quốc cũng cao tương ứng.

Đặc biệt, trong 1 vài năm 2008, 2010 và 2011 khi tiền đồng giảm giá hơn 10% so có nhân dân tệ, thì xuất khẩu của Việt Nam ra địa cầu đã tăng trên/dưới 30%/năm, đồng thời tăng trưởng nhập khẩu từ Trung Quốc cũng đạt mức hơn 20%/năm.

Tuy nhiên, khi tiền đồng tăng giá hơn 5% so có nhân dân tệ trong năm 2016 do Trung Quốc phá giá mạnh (hơn 6%), còn Việt Nam chỉ phá giá nhẹ (hơn 1%), thì nhập khẩu từ Trung Quốc không những không tăng, mà còn giảm 6%. Đồng thời xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc đạt tốc độ tăng trưởng tới 59% trong năm 2016, và bởi thế, nhập siêu từ Trung Quốc cũng giảm từ mức gần 33 tỷ USD năm 2015 xuống còn hơn 20 tỷ USD năm 2016.

Như vậy, khi nhân dân tệ giảm giá so có tiền đồng trong năm 2016 hàng Trung Quốc đã không tràn sang Việt Nam như lo ngại. Ngược lại, hàng Việt Nam lại tràn sang Trung Quốc.

Có nhất thiết phải ăn miếng trả miếng có đồng Nhân dân tệ? - Ảnh 2.

Tại sao lại bởi thế?

Có thể giải đáp là mặc dù khi tiền đồng giảm giá so có nhân dân tệ trong GĐ 2008-2015 (vì CNY lên giá so có USD còn VND giảm giá so có USD), hàng Việt Nam phát triển thành có tính tranh giành hơn và đơn hàng xuất khẩu tăng nhanh, nhưng do tốc độ tăng công suất của nền kinh tế chỉ ở mức thấp (dao động 6-7%/năm trong GĐ 2008-2016 nếu lấy tốc độ tăng trưởng GDP hoặc sản lượng công nghiệp làm thước đo), Việt Nam không đủ sức để cung cấp toàn bộ 1 vài đơn hàng có tốc độ tăng trung bình tới 17%/năm. Bởi vậy, Việt Nam phải tăng nhập khẩu từ Trung Quốc (nguyên chất liệu hoặc hàng hoá tiêu dùng cuối cộng).

Nói 1 vàih khác, khi tốc độ tăng xuất khẩu đã ở mức cao so có năng lực sản xuất của nền kinh tế, lợi ích thu được từ việc phá giá tiền tệ để tăng xuất khẩu nhiều Bên cạnh đó sẽ không lớn. Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu quá cao và kéo dài cũng góp phần giải đáp vì nguyên nhân gì mà hàm lượng giá trị tăng thêm của Việt Nam trong hàng xuất khẩu lại thấp.

Nhưng khi đồng nhân dân tệ giảm giá mạnh so có tiền đồng trong năm 2016, hàng Trung Quốc phát triển thành có tính tranh giành hơn và Trung Quốc đã tự xuất khẩu 1 phần hàng hoá của mình mà không cần “nhờ” đến Việt Nam. Chính vì vậy, nhập khẩu và nhập siêu từ Trung Quốc đã giảm. Tất nhiên, khi Trung Quốc tự xuất khẩu hàng hoá của mình, xuất khẩu tổng thể của Việt Nam cũng giảm theo.

Câu hỏi đặt ra là trong sự sụt giảm xuất khẩu tổng thể của Việt Nam khi đồng nhân dân tệ giảm giá so có tiền đồng thì có bao nhiêu phần là hàng hoá Việt Nam tự sản xuất ra (cho dù là nhập nguyên liệu rồi gia công) và bao nhiêu phần là hàng hoá Việt Nam trước đó xuất khẩu hộ Trung Quốc (nhập khẩu – dán nhãn mác – xuất khẩu)?

Rõ ràng là nếu sự sụt giảm xuất khẩu tổng thể chỉ liên quan chủ yếu đến 1 vài hàng hoá Việt Nam xuất khẩu hộ Trung Quốc, thì việc phản ứng đối có xu hướng đồng nhân dân tệ giảm giá theo kiểu “ăn miếng trả miếng” là không thực sự cần thiết.

Việt Nam nên ứng phó ra sao khi đồng Nhân dân tệ rớt giá?

Bạn đang xem chuyên mục tai chinh ngan hang của CTT.EDU.VN

COMMENTS

WORDPRESS: 0
DISQUS: