CPTPP: Còn khoảng cách xa giữa “biết” và “hiểu rõ-tận dụng được”

Nhiều công ty Việt vẫn đang thờ ơ có 1 số chính sách bán hàng vĩ mô hoặc hội nhập... Hiệu ứng của Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái

Đại biểu Quốc hội ngành công an tâm tư chuyện phong tướng cho Giám đốc công an tỉnh
Kỳ vọng vào mối “lương duyên” FDI và doanh nghiệp nội
VNPT đầu tư xấp xỉ 560 triệu USD cho 2 quả vệ tinh sau 10 năm đã thu được gì?

Nhiều công ty Việt vẫn đang thờ ơ có 1 số chính sách bán hàng vĩ mô hoặc hội nhập…

Hiệu ứng của Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) đối có nền kinh tế là khá tích cực. Song dao động 1 sốh giữa thời cơ tiềm năng và hiện thực là 1 chặng các con phố dài khi CPTPP có quá nhiều vấn đề công ty cần lưu ý.

Các báo cáo phân tách định lượng về tác động của CPTPP cho thấy Hiệp định có lại nhiều hiệu ứng khá tích cực tới nền kinh tế. GDP tăng thêm 1,32%. Tác động này có thể sẽ lớn hơn nếu Việt Nam thực hiện đồng thời cắt giảm thuế quan và tự do hóa dịch vụ theo kịch bản mở cửa dịch vụ (GDP tăng thêm 2,01%). Tương tự bởi thế, xuất khẩu có thể tăng thêm 4%, nhập khẩu sẽ tăng thêm ở mức 3,8-4,6%.

Hiệu ứng tích cực cho nền kinh tế

Mức xuất khẩu tăng thêm chủ yếu do tốc độ tăng xuất khẩu có 1 số nước trong CPTPP, trong khi đó mức nhập khẩu tăng thêm lại chủ yếu từ 1 số nước ngoài khối. Theo kết quả này, nếu không có các cải 1 sốh đột biến, Việt Nam sẽ vẫn tiếp tục phải tùy thuộc vào nguồn nhập khẩu từ 1 số nước giai đoạn này như Trung Quốc, Hàn Quốc ngay cả khi có CPTPP. Điểm này rất đáng chú tâm do việc nhập khẩu ngoài CPTPP có thể khiến cho Việt Nam không được hưởng lợi nhiều vì quy định lý do xuất xứ trong CPTPP.

Với 1 số ngành, đánh giá chung cho thấy các ngành thâm dụng nhiều lao động như dệt may, da giày sẽ tiếp tục được hưởng lợi nhiều hơn từ CPTPP. Nhưng có các ngành thâm dụng nhiều vốn, mức tăng trưởng sản lượng là không đáng kể (sản lượng tăng 0,8%, xuất khẩu tăng thêm 1,67%).

Ngành chăn nuôi sẽ bị ảnh hưởng do lợi thế của ngành này kém so có 1 số đối tác như Australia và New Zealand và mức độ cắt giảm thuế quan so có mức MFN giai đoạn này là không nhiều. Sản lượng có thể giảm 0,3% và xuất khẩu giảm dao động 8%. Ngành chế biến thực phẩm cũng bị ảnh hưởng mặc dù không đáng kể, tốc độ tăng trưởng sản lượng bị giảm đi so có việc không có TPP11 ở mức dao động 0,3 đến 0,5 điểm %.

Nhóm ngành chế tác sử dụng nhiều lao động vẫn có lợi, sản lượng tăng thêm do CPTPP là từ 4-5%, và xuất khẩu tăng thêm từ 8,7-9,6%. Mở cửa ngành dịch vụ, đặc thù là ngành dịch vụ tài chính có thể tác động làm giảm tốc độ tăng trưởng của ngành này, nhưng do có tác động lan tỏa lớn, vẫn có tác dụng kích thích được tăng trưởng chung của toàn nền kinh tế.

Cơ hội lớn nhất của CPTPP là việc tiếp cận 1 số phân khúc xuất khẩu mới ở châu Mỹ cũng như tận dụng mức cam đoan mở cửa sâu hơn có 1 số FTA giai đoạn này. Tham gia CPTPP cũng sẽ tạo thời cơ cho Việt Nam có năng lực thỏa thuận cao hơn trong trường hợp Mỹ quay lại hoặc chuẩn bị có 1 thoả thuận song phương, cũng như khi Việt Nam tham dự vào 1 số FTA khác. Đặc biệt hơn, CPTPP có thể giúp Việt Nam giảm tùy thuộc thương mại (chủ yếu xuất khẩu) vào 1 số đối tác truyền thống mà sự tùy thuộc đó có thể kéo theo sự tùy thuộc về 1 số lĩnh vực khác. CPTPP có nền móng là TPP12, cũng sẽ tạo áp lực lớn tới đổi mới thể chế trong nước.

Cam kết về “lý do xuất xứ” sẽ ảnh hưởng và chọn lọc rất lớn tới khả năng hiện thực hóa lợi ích từ CPTPP. Khi thỏa thuận 1 số FTA khác, có thể bị đề nghị phải cam đoan ngang bằng TPP11.

Những điểm cần lưu ý

Theo 1 nghiên cứu kỹ của ADB, mật độ tận dụng được ưu đãi thuế quan của FTA có công ty Việt Nam hiện đang ở mức (37%), không phải là quá thấp so có trung bình của ASEAN (25%). Tuy nhiên, để tận dụng được lợi ích từ CPTPP cần chú tâm 1 số điểm sau:

Về tài liệu về CPTPP, theo 1 nghiên cứu kỹ trước đó, mật độ số công ty biết về TPP là khá cao. Điều này là do công tác phổ biến tài liệu chung về 1 số hiệp định trong thời gian qua đã khá tốt, tuy nhiên giữa “biết” và “hiểu rõ và tận dụng được” là dao động 1 sốh khá xa. Có hai lý do dẫn đến dao động 1 sốh này.

Hiện nay về quản lý nhà nước đang thiếu 1 cơ quan hoặc bộ phận để công ty có thể tra cứu 1 số tài liệu 1 1 sốh chi tiết nhất liên quan đến ngành và lĩnh vực sản xuất cụ thể. Thông tin chung có thể có từ nhiều nguồn, nhưng cái công ty cần là tài liệu chi tiết lại chưa có. Thứ hai là, về phía công ty việc thờ ơ có 1 số chính sách bán hàng vĩ mô hoặc hội nhập cũng không phải không có. Quan sát trong 1 số hội nghị phổ biến tài liệu hội nhập cho thấy số lượng công ty đặt câu hỏi hoặc chủ động nghiên cứu tài liệu là không cao. Nhiều công ty bỏ về giữa chừng.

Về cải thiện năng lực tranh đua, đó là 1 câu chuyện dài và có thể phân chia làm hai nhóm: công ty FDI và công ty trong nước. Với tốc độ tăng trưởng xuất khẩu giai đoạn này và tỷ trọng của công ty FDI trong tổng xuất khẩu đang tăng cao (trên 70%) cho thấy đang có hai bức tranh trái ngược. Khu vực FDI sẽ vẫn là các công ty được hưởng lợi lớn từ 1 số hiệp định FTA do khả năng tranh đua cao hơn. Trong khi khu vực công ty trong nước có thể đối mặt có nhiều thách thức hơn. Thách thức này không hoàn toàn từ hàng hoá nhập khẩu rẻ hơn mà còn tranh đua về sử dụng đầu vào, đặc thù là vấn đề lao động.

Thực tế năng lực tranh đua của Việt Nam đang tương đối thấp. Chỉ số năng lực tranh đua mặc dù mấy năm gần đó có 1 sốh tân nhưng các chỉ số phụ cốt lõi đối có năng lực tranh đua là công nghệ, tính sáng tạo, hạ tầng đều thấp. Những chỉ số này cần rất nhiều thời gian để cải thiện.

Về cải thiện về tỉ lệ xuất xứ hàng hoá, do đặc điểm của cơ cấu kinh tế giai đoạn này là xuất khẩu kéo theo nhập khẩu, việc cải thiện mật độ xuất xứ thực ra tương đối khó vì hàng nhập khẩu giá rẻ, đặc thù được hỗ trợ bởi chiến tranh thương mại. Nhập khẩu của Việt Nam chủ yếu từ 1 số nước không thuộc CPTPP vì vậy sẽ tiếp tục là điểm nghẽn. Vấn đề này chỉ được giải quyết nếu trong thời gian tới 1 sốh tân chiến lượng lôi kéo FDI để ưu tiên hơn có 1 số dòng FDI sản xuất linh kiện và nguyên liệu hỗ trợ. Ngoài ra, cũng cần có đột phá trong việc khuyến khích công ty trong nước đầu tư sản xuất vào lĩnh vực này. Tuy nhiên, trong năm 2019 chưa thấy các dấu hiệu cụ thể nào về vấn đề này.

——————————

(*)Trưởng ban Kinh tế thế giới, Trung tâm Thông tin và Dự báo xã hội quốc gia (NCIF)

CPTPP – Cơ hội mở “room” rất lớn cho tăng trưởng kinh tế

Bạn đang xem chuyên mục Kinh Te VI Mo Dau Tu ở CTT.EDU.VN

COMMENTS

WORDPRESS: 0
DISQUS: