Giảm giá VND để hỗ trợ xuất khẩu: Nên hay không?

Một số ý kiến chuyên gia cho rằng, Việt Nam cần theo 1 chính sách phân phối hàng tỷ giá mềm dẻo, tức là nên giảm giá đồng VND so có USD nhưng không g

Không đề cập đến trách nhiệm ông Trần Bắc Hà trong đại án Trầm Bê
1Pay về tay người Thái
Rủi ro tỉ giá ảnh hưởng rất lớn đến lợi nhuận doanh nghiệp

Một số ý kiến chuyên gia cho rằng, Việt Nam cần theo 1 chính sách phân phối hàng tỷ giá mềm dẻo, tức là nên giảm giá đồng VND so có USD nhưng không giảm mạnh như CNY để hỗ trợ xuất khẩu.

“Một chính sách phân phối hàng tỷ giá mềm dẻo”

Tháng 6 và đầu tháng 7 đánh dấu chuỗi biến động mạnh của phân khúc ngoại hối khi tỷ giá USD /VND tăng mạnh 150 đồng, bật lên khỏi nền giá duy trì trong hơn 1 năm qua.

Tỷ giá tiếp tục tăng thêm 100 đồng trong 2 tuần đầu tháng 7, tương đương mức tăng 1,1% chỉ trong vòng 1 tháng và chuyển nhượng ở mức 23.010/23.080 đồng trên phân khúc ngân hàng.

Tỷ giá tự do cũng chịu sức ép và tăng mạnh 360 đồng lên mức 23.180/23.230 đồng, đồng thời chênh lệch giá mua phân phối tăng từ 20 đồng lên 50 đồng.

Sức ép lên tỷ giá trong tháng 6 đến chủ yếu từ nhân tố ngoại khu kết hợp có tâm lý nội khu. Hàng loạt một vài đồng tiền trên địa cầu đã mất giá nhanh trong tháng 6 do Mỹ chính thức áp thuế cao có hàng hóa Trung Quốc, làm dấy lên nguy cơ chiến tranh thương mại leo thang.

Chỉ tính từ đầu tháng 6 đến nay, đồng CNY của Trung Quốc đã mất giá 4,5%, THB của Thailand mất giá 3,8% và đồng IDR của Indonesia mất giá 3,4%. Việc một vài đồng tiền mất giá tạo ra tâm lý đồng VND cũng sẽ phải mất giá khiến tỷ giá tăng.

Theo 1 số chuyên gia, thì việc đồng CNY mất giá mạnh sẽ khiến cán cân thương mại của Việt Nam bị ảnh hưởng nặng nề do hàng hóa Trung Quốc giá rẻ ồ ạt chảy vào phân khúc nội địa.

Để khắc phục hiện trạng này, PGS.TS. Nguyễn Đức Thành, Viện trưởng VERP cho rằng, Việt Nam nên theo đuổi chính sách phân phối hàng tỷ giá mềm dẻo, tức là nên giảm giá đồng VND so có USD nhưng không giảm mạnh như CNY.

Giải thích rõ hơn, đại diện VEPR cho rằng, có đặc biệt là 1 nước nhập khẩu nhiều nguyên liệu từ Trung Quốc để chế biến và xuất khẩu , việc điều chỉnh tỷ giá bởi thế khiến một vài nhà nhập khẩu nguyên liệu có lợi từ phân khúc Trung Quốc, đồng thời một vài nhà nhập khẩu có lợi thêm từ việc xuất khẩu sang Mỹ. Việc tận dụng hai phân khúc lớn này có thể cải thiện hiện trạng sản xuất và cán cân thương mại.

Cần có cái nhìn dài hạn và tổng thể?

Kiến nghị của VEPR không phải không có lý khi Mỹ và Trung Quốc là hai đối tác thương mại đặc trưng quan trọng có Việt Nam. Hiện Mỹ đã vượt EU thành phân khúc xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam có kim ngạch 21,5 tỷ USD sau 6 tháng đầu năm, tăng 9,2% so có cộng kỳ và chiếm dao động 1/5 tổng kim ngạch xuất khẩu.

Trong khi đây, Trung Quốc lại là phân khúc nhập khẩu lớn nhất, đạt 31,1 tỷ USD (tăng 15,6%), chiếm dao động 1/4 tổng kim ngạch nhập khẩu là phân khúc nhập siêu lớn nhất của Việt Nam trong nửa đầu năm 2018.

Tuy vậy, cũng có không ít ý kiến phản biện liên quan đến kiến nghị này.

Theo một vài chuyên gia đánh giá ở CTCP Chứng khoán Sài Gòn (SSI), để chọn lọc điều chỉnh tỷ giá ra sao sẽ cần có 1 cái nhìn dài và tổng thể hơn.

“Thứ nhất, một vài đồng tiền trong khu vực dù mất giá nhanh hơn VND trong 1 tháng qua nhưng lại lên giá khá nhiều so có VND trong dao động thời gian 1 năm. Điều này có nghĩa xuất khẩu Việt nam đã được hưởng lợi trong 1 thời gian dài.

Thứ 2, lượng vay nợ ngoại tệ của Việt nam là rất lớn nên cái lợi từ xuất khẩu cần phải cân đối có cái hại của sức ép trả nợ nước ngoài”, SSI đánh giá.

Cũng theo một vài chuyên gia này, nếu đánh giá từ khía cạnh cung cầu ngoại tệ, thực ở cho thấy hiện trạng mất cân đối cung cầu chưa lớn để đẩy tỷ giá tăng mạnh.

Phân tích sâu hơn, SSI cho biết, xuất siêu đã trở lại trong tháng 6 có giá trị 800 triệu USD, nâng tổng giá trị xuất siêu từ đầu năm lên 3,74 tỷ USD hỗ trợ tích cực cho tỷ giá. Cán cân tổng thể đạt thặng dư 9,577 tỷ USD trong 6 tháng đầu năm, tăng mạnh so có 2,5 tỷ USD cộng kỳ năm 2017.

Ngoài nhân tố tâm lý kể trên, tỷ giá tăng cũng xuất phát từ biến động trong chuyển nhượng liên ngân hàng. Lãi suất USD trên phân khúc liên ngân hàng tăng từ 1,7% lên sát 2% ở kỳ hạn qua đêm, trong khi lãi suất VND giảm mạnh nới rộng chênh lệch lãi suất USD-VND từ 0,2% lên 1,2%. Động thái hút thanh khoản VND bằng tín phiếu của NHNN trong thời gian qua phần nào cũng giúp thu hẹp nguồn cung nội tệ, từ đây hỗ trợ tỷ giá.

Với nguồn dự trữ ngoại hối dồi dào, xấp xỉ 65 tỷ USD, tương đương 15 tuần nhập khẩu, NHNN đã chủ động phát tín hiệu sẽ can thiệp hỗ trợ phân khúc để hỗ trợ tỷ giá. Thực tế, NHNN đã giảm mạnh tỷ giá phân phối ra USD từ 23.294 đồng xuống 23.050 đồng vào ngày 3/7.

Bắt đầu từ tháng 7, song song có giảm giá phân phối, NHNN cũng cho tỷ giá tham chiếu gần như đi ngang, tạo tín hiệu rõ rệt có phân khúc về chủ trương không tiếp tục điều chỉnh tỷ giá. Cùng thời gian này tỷ giá NHTM cũng đi ngang và chỉ có tỷ giá tự do còn ở mức cao.

Còn nhớ, năm 2015 và 2016 khi tỷ giá nổi sóng, tỷ giá tự do cũng tăng cao nhưng sau đây giảm trở lại và đi cộng quỹ đạo của tỷ giá NHTM.

Theo một vài chuyên gia, trong thời gian tới nếu sức ép tiếp tục tăng lên, NHNN có thể sẽ phân phối ra dự trữ ngoại hối để bình ổn phân khúc. Cam kết ổn định tỷ giá của NHNN có nguồn lực dự trữ ngoại hối dồi dào và cung cầu ngoại tệ cân bằng là một vài nhân tố hỗ trợ ổn định tỷ giá.

Tín hiệu mới trên phân khúc ngoại tệ

Bạn đang xem chuyên mục tai chinh ngan hang của CTT.EDU.VN

COMMENTS

WORDPRESS: 0
DISQUS: 0