Khi điều kiện kinh doanh được ngụy trang

Phát biểu ở phiên họp thường kỳ Chính phủ tháng 9, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cho biết, hiện 1 vài bộ, ngành mới rà soát, cắt giảm được 60%, còn tới

Thấy gì từ việc Vinasun và Grab “đình chiến” để hòa giải?
Cắt bỏ gần 1.000 điều kiện kinh doanh về mỹ phẩm và thực phẩm
Hà Nội: Đề xuất cơ chế đặc thù thu hút 5 tỷ đô la làm hạ tầng

Phát biểu ở phiên họp thường kỳ Chính phủ tháng 9, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cho biết, hiện 1 vài bộ, ngành mới rà soát, cắt giảm được 60%, còn tới gần 40% điều kiện kinh doanh cần cắt giảm. Đặc biệt, còn hiện trạng đối phó như cắt giảm điều kiện này thì lại “mọc” ra điều kiện khác. Có lẽ, đấy là nguyên do chính khiến số lượng 1 vài công ty từ giã phân khúc không hề cắt giảm trong thời gian qua.

Doanh nghiệp chưa hết lo lắng

Thời gian qua, Chính phủ cực kỳ nỗ lực “phát quang rừng” thủ tục, liên tục cắt giảm 1 vài điều kiện kinh doanh (ĐKKD) cản trở sự phát triển, gây khó cho công ty (DN), để tạo môi trường đầu tư kinh doanh thực sự thông thoáng. Đặc biệt, Chính phủ đã đề nghị đến hết 15/8 1 vài bộ, ngành công dụng phải tiếp tục cắt giảm 50% ĐKKD được coi là gây gặp khó cho DN.

Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng, đa số 1 vài bộ, ngành đều đã có phương án cắt giảm ĐKKD có mật độ cắt giảm ít nhất cũng đạt đề nghị, nghĩa là trên 50%. Thế nhưng, rút cục đến thời điểm này vẫn còn tới gần 40% ĐKKD cần cắt giảm. Như vậy, còn tới 2.363 ĐKKD (chiếm dao động 40%) đã có phương án tiếp tục cắt giảm, nhưng chưa có văn bản quy định cụ thể. Con số đã cắt giảm trong quy định về kiểm tra chuyên ngành còn thấp hơn rất nhiều, mới chỉ dao động 6,6% đã cắt giảm và 13,3% chuẩn bị sẽ cắt giảm.

Không hiểu sao nhiều bộ, ngành còn chần chừ, chậm trễ? Những cơ quan này có biết rằng, trong dao động thời gian này, đã có các DN không đủ sức chi trả 1 vài khoản kinh phí tuân thủ ĐKKD buộc phải rút lui…

Những cơ quan này cũng có để tâm rằng, có nhiều nhà đầu tư, DN muốn mở rộng vận hành, nhưng không đủ kiến nhẫn có 1 vài lời hứa sẽ sửa đổi, đành chọn lọc chậm lại hay chuyển hướng đầu tư. Phải nói rõ, nhiều trong số 1 vài văn bản trong danh mục sẽ tham khảo chỉnh sửa đã được bàn tới khá lâu, tới vài năm, đã đối thoại tìm biện pháp nhiều lần, đã được 1 vài DN đề xuất phương án sửa đổi cụ thể.

Ví dụ, đề xuất bỏ 1 vài điều kiện ràng buộc diện tích kinh doanh quá mức có 1 vài DN xuất khẩu gạo của Nghị định 109/2010/NĐ-CP về kinh doanh xuất khẩu gạo đã gần 8 năm. Hay đề xuất bỏ 1 vài điều kiện can thiệp vào phương án kinh doanh của 1 vài DN kinh doanh vận tải của Nghị định 86/2014/NĐ-CP kinh doanh ĐKKD vận tải bằng xe xế hộp đã kéo dài 4 năm. Như vậy, nếu nhìn vào “lịch sử” sửa đổi 1 vài văn bản liên quan đến điều kiện kinh doanh, kiểm tra chuyên ngành, thì việc DN phải chờ đợi nhiều năm xem ra rất phổ biến.

Nhưng chờ đợi để có được kết quả vẫn còn là hạnh phúc. Điều đáng quan ngại đây là cắt ĐKKD này nhưng kiếm cớ để mọc thêm ĐKKD mới, đây mới là điều DN lo lắng.

Chẳng hạn điều kiện DN phải trình phương án kinh doanh, vô lý không kém các điều kiện mà 1 vài DN, 1 vài chuyên gia kinh tế đã rất mất thời gian thuyết phục mới bỏ đi được. Thế nhưng, nhiều phương án chỉ điều chỉnh câu chữ, sắp xếp lại nội dung của 1 vài ĐKKD hiện hành. Chắc chắn, DN, nhà đầu tư sẽ chẳng thể hưởng lợi bất cứ điều gì từ các phương án có nặng tính hình thức này. Có lẽ, sự chờ đợi mòn mỏi này đã khiến nhiều DN phải từ giã phân khúc.

Trong 9 tháng, cả nước có trên 96.000 DN đăng ký thành lập mới, chỉ tăng 8% về số DN và tăng 6,7% về số vốn trong khi đây, số DN tạm ngừng vận hành tăng cao. Có tới 50.050 DN tạm ngừng vận hành không đăng ký hoặc chờ giải thể, tăng 62,3% so có cùng kỳ năm trước.

Tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng diễn ra ngày 1/10, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã đặt vấn đề và đề nghị 1 vài bộ ngành, địa phương lý giải ở sao số lượng DN thành lập mới còn thấp, số DN tạm ngừng vận hành tăng cao, hiệu quả vận hành kinh doanh của DN tư nhân chưa được như chờ mong.

Theo Thủ tướng, 1 vài bộ, ngành, địa phương “phải tự hỏi lý do của hiện trạng trên là vì đâu trong bối cảnh Chính phủ đang chỉ đạo quyết liệt cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh. Phải chăng là khâu thực thi của 1 vài cấp chưa hiệu quả”.

Các bộ, ngành mới rà soát, cắt giảm được 60%, còn tới gần 40% ĐKKD cần cắt giảm, còn hiện trạng đối phó như cắt giảm điều kiện này thì lại “mọc” ra điều kiện khác- Thủ tướng lưu ý. Các bộ, ngành cần khẩn trương đã đi vào hoạt động rà soát, cắt giảm 1 vài điều kiện kinh doanh không cần thiết theo đúng công đoạn, chất lượng đề ra.

Cần cơ chế độc lập kiểm soát cắt giảm ĐKKD

Theo ông Đậu Anh Tuấn- Trưởng ban Pháp chế, phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI), cần phải có 1 cơ chế kiểm soát độc lập về việc đặt ra các ĐKKD mới, các giấy phép kinh doanh mới, không để hiện trạng 1 vài bộ, ngành đặt ra 1 vài ĐKKD, mà không cân nhắc đến lợi ích chung, quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật.

Việc đặt ra 1 vài giấy phép kinh doanh mà nhiều trong số đây không hợp lý, gây phiền hà tốn kém cho vận hành kinh doanh. Trước hết là do thói quen quản lý, rất nhiều cơ quan quản lý muốn đặt ra giấy phép để tiện lợi trong quản lý của mình, mặc dù nó có thể gây hậu quả rất lớn cho các người kinh doanh. Thứ hai là có bóng dáng của lợi ích và nhiều điều kiện kinh doanh được sử dụng như là 1 công cụ để gạt các DN nhỏ ra khỏi phân khúc.

Còn nói như ông Nguyễn Đình Cung- Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương thì nhiều ĐKKD mới được “ngụy trang” rất khéo. Số lượng ĐKKD được cắt giảm cũng quan trọng, nhưng để phân tách chính xác hiệu quả của việc cắt giảm phải rà soát rất kỹ. Những năm 2003-2005, 1 vài DN, chuyên gia cũng khuyến nghị cắt giảm vô số ĐKKD, thậm chí đã đưa ra 1 vài phương án rất chi tiết, nhưng kết quả không điều kiện nào được bãi bỏ.

“Phải nói thẳng vẫn còn các nội dung không phải là cắt giảm, chỉ là thu gọn 1 vài điều kiện vào 1 nội dung, thay vì chia nhỏ ra, nghĩa là giảm về số lượng nhưng DN vẫn phải thực hiện như cũ, không có gì 1 vàih tân. Không phải chỉ 1 vài cơ quan quản lý, tôi đang lo lắng về lối tư duy rất kỳ lạ từ chính 1 vài DN. Tôi lấy ví dụ về Nghị định 86/2014 quy định DN taxi phải có tối thiểu 10 xe, đối có thành thị loại độc đáo phải là 50 xe. DN xe buýt, vận tải hàng hóa, xe hợp đồng, xe chở khách du lịch cự ly từ 300km trở lên… phải có từ 10 xe trở lên nếu có trụ sở đặt ở 1 vài thành thị trực thuộc Trung ương và từ 5 xe trở lên ở 1 vài địa phương khác”- ông Cung nói.

Đồng thời, vị chuyên gia này cũng cho rằng, trong khi hạn chế thời cơ gia nhập phân khúc của DN mới, DN nhỏ; hạn chế quyền kinh doanh của DN (quyền chọn lọc bao nhiêu xe để chắc chắn phương án kinh doanh có tính tranh giành cao, có lợi nhuận tốt), điều kiện này không đâyng góp gì cho việc thực hiện 1 vài mục tiêu như chắc chắn an toàn giao thông, giảm tai nạn, nâng cao năng lực tranh giành của DN…

Thế nhưng khi dự thảo Nghị định thay thế bãi bỏ quy định số lượng xe tối thiểu đối có DN kinh doanh vận tải, phía Hiệp hội Vận tải xế hộp Việt Nam lại có ý kiến không đồng tình. Với động thái này, có cơ sở để cho rằng hiệp hội đang bảo vệ các DN lớn, các DN đang vận hành, thay vì ủng hộ việc mở rộng sân chơi, tạo thời cơ tranh giành bình đẳng trên phân khúc vận tải xế hộp.

Vượt lên tư duy “lợi ích nhóm”

“Nếu 1 vài hiệp hội DN không vượt qua được lợi ích nhóm, không đặt qui định tranh giành bình đẳng trong kinh doanh lên trên khi tham gia phản biện, thi công chính sách bán hàng, chính họ lại trở thành lực cản đối có 1 vài nỗ lực cải thiện môi trường kinh doanh Việt Nam”- ông Cung nói.

Vẫn theo ông Cung, đây là chưa kể rất nhiều bất hợp lý khác trong cái dự thảo này. Tại sao cơ quan nhà nước lại quy định taxi tính cước theo đồng hồ tính tiền (hoặc thông qua phần mềm) căn cứ vào km xe lăn bánh, thời gian chờ đợi… mà không cho DN tự chọn lọc. Các hãng hàng không đã được quyền tự chọn lọc giá, vì nguyên do gì taxi không? Rồi vì nguyên do gì phải quy định đơn vị kinh doanh bến xe có quyền kiểm tra điều kiện đối có xe xế hộp, lái xe và xác nhận vào lệnh vận chuyển; cho xe xuất bến vận chuyển hành khách nếu đủ điều kiện, không cho xe xuất bến đối có 1 vài trường hợp không đủ điều kiện? Lẽ ra quản lý nhà nước là tạo điều kiện để 1 vài bến xe tranh giành, lôi kéo nhà xe, cơ quan soạn thảo lại tư duy theo kiểu “bắt” bến xe làm việc của cơ quan quản lý nhà nước.

Có thể nói, sức ép kỷ luật hành chính là điều kiện cần để buộc 1 vài bộ, ngành, địa phương chẳng thể chần chừ trong thực thi cam đoan cắt giảm gặp khó, kinh phí cho DN, nhưng chưa đủ. Nếu từng lãnh đạo bộ, ngành, địa phương không thực sự coi mình là người trong cuộc của công cuộc cải 1 vàih, nếu chính mình cùng đồng DN không vì cái chung mà vượt lên được tư duy lợi ích nhóm, các con phố còn dài và nhiều gian khổ.

Mới chỉ cắt bỏ được 12,5% số điều kiện kinh doanh


Bạn đang xem chuyên mục Kinh Te VI Mo Dau Tu ở CTT.EDU.VN

COMMENTS

WORDPRESS: 0
DISQUS: