Là nước thuần nông, nhưng tại sao Việt Nam không hấp dẫn nhà đầu tư ngoại rót vốn vào nông nghiệp?

Ông Nguyễn Văn Toàn, Phó Chủ tịch Hiệp hội Đầu tư nước ngoài kể lại trong buổi hội thảo về vốn FDI gần đây, ông đã ngỡ ngàng khi cảm thấy không 1 tha

Thủ tướng bổ nhiệm Chủ tịch Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp
Người Trung Quốc tràn ra vùng ven Nha Trang
Thị trường bia Việt: Cạnh tranh khốc liệt

Ông Nguyễn Văn Toàn, Phó Chủ tịch Hiệp hội Đầu tư nước ngoài kể lại trong buổi hội thảo về vốn FDI gần đây, ông đã ngỡ ngàng khi cảm thấy không 1 tham luận nào đề cập đến đầu tư nước ngoài vào nông nghiệp. Nhưng ngẫm lại, ông bảo: “Cũng đúng thôi!”.

“Hầu hết một số dự án đầu tư vào nông nghiệp đều thất bại”

Theo số liệu của Bộ Kế hoạch và đầu tư, 6 tháng đầu năm 2017, tính tổng cấp mới, tăng thêm và mua cổ phần của một số nhà đầu tư ngoại vào nông nghiệp chỉ đạt hơn 137 triệu USD (cấp mới: 127 triệu USD, tăng vốn: 6,16 triệu USD, mua cổ phần: 3,77 triệu USD).

Trong khi đây, tổng vốn FDI đổ vào Việt Nam dao động thời gian đây đạt 19,2 tỷ USD, nghĩa là vốn rót vào nông nghiệp chỉ chiếm 0,7%, chưa bằng 1/10 vốn FDI lôi kéo vào ngành công nghiệp chế tạo, sản xuất điện, khí…

Nhìn lại trong 3 năm gần đây, vốn FDI vào nông nghiệp cũng chiếm tỷ trọng rất thấp trong cơ cấu vốn FDI vào Việt Nam. Cụ thể, ở một số năm 2014, 2015, 2016 mật độ lần lượt là 0,5% – 1% và 0,4%.

Vấn đề được đặt ra là có tiềm năng và lợi thế của 1 nước vốn có gốc làm nông, vì sao dòng vốn ngoại đổ vào nông – lâm – ngư nghiệp vẫn còn hạn chế?

Câu hỏi này thực ở đã được đại biểu Quốc hội chất vấn Bộ trưởng Kế hoạch Đầu tư Nguyễn Chí Dũng ở Nghị trường giữa tháng 6 năm nay.

Lúc đây, ông Dũng thừa nhận: “Vốn FDI vào nông nghiệp chỉ đạt 0,9% – 1% tổng vốn đầu tư. Thực tế đa số một số dự án đầu tư vào nông nghiệp đều thất bại” và “Thu hút đầu tư cực kỳ gặp khó, chúng ta đã ban hành nhiều chính sách bán hàng, cơ chế rồi nhưng chưa thích hợp thực ở, chưa đủ quyến rũ”.

Hơn chục năm trước, báo chí từng nhắc đến việc “tháo chạy” của công ty quốc tế Kiến tài (công ty liên doanh giữa Centre Trading and Development Corp, công ty Astro – Đài Loan và Công ty Nông – lâm sản xuất khẩu Kiên Giang) như 1 ví dụ điển hình về sự thất bại của dự án FDI trong lĩnh vực nông nghiệp.

Sau 7 năm thực hiện dự án (kể từ khi cấp phép thành lập năm 1991), công ty trồng được gần 23.300 ha (trên tổng số 60.000 ha), đào 237 km kênh mương để thau chua, rửa phèn.

Tuy nhiên, quy hoạch sử dụng đất một sốh tân, công ty không triển khai được thi công nhà máy sản xuất giấy theo hợp đồng và tỉnh Kiên Giang không có khả năng kết nối dân để giao đủ đất cho công ty, Bộ KH-ĐT đã ra chọn lọc chấm dứt vận hành trước thời hạn và áp dụng thanh lý công ty liên doanh. Việc bồi hoàn cho bên nước ngoài theo thoả thuận là gần 1 tỷ USD và được đã đi vào hoạt động vào ngày 30/4/2003.

Rủi ro chính sách bán hàng cho đến nay vẫn là rào cản lớn, khiến cho công ty nước ngoài không mặn mà có nông nghiệp – ông Nguyễn Văn Toàn, Phó Chủ tịch Hiệp hội Đầu tư nước ngoài nhận định.

“Doanh nghiệp Việt đầu tư vào nông nghiệp cũng rất hạn chế vì nhiều gặp khó, rào cản. Những gì nhà đầu tư trong nước vấp phải khi đầu tư vào nông nghiệp như chính sách bán hàng, hạn điền… một số nhà đầu tư ngoại cũng phải chịu. Nhưng nhà đầu tư ngoại còn gặp gặp khó hơn”, ông Toàn nói. Theo ông, đây là vướng mắc trong việc giải phóng mặt bằng, tạo quan hệ có chính quyền, người dân.

Bên cạnh đây, ông Toàn đánh giá về bài toán lợi ích giữa nhà đầu tư nước ngoài và người tham dự vào quá trình đây. Ví dụ như việc đào tạo, họ thuê nông dân rồi cung cấp kiến thức, vốn, giống… trả thu nhập nhưng khi được mùa nông dân không thực hiện cam đoan hợp đồng giao thành phẩm, rồi các bất đồng về ngôn ngữ, văn hoá khiến nhà đầu tư nản chí.

“Nhiều nhà đầu tư nước ngoài thất bại trong nông nghiệp chứ chưa nói đến nông nghiệp công nghệ cao”, ông Toàn nhấn mạnh.

Những chuyển động mới…

Dù vậy, theo ông Toàn, Nghị quyết phiên họp thường kỳ chính phủ tháng 2/2017 do Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc ký, Chính phủ đã đề nghị sửa đổi chính sách bán hàng đất đai, tạo thuận lợi cho tích tụ, tập trung ruộng đất, mở rộng hạn điền cho sản xuất nông nghiệp diện tích lớn…

Chính phủ cũng đề nghị Bộ Nông nghiệp thi công một số tiêu chí xác định chương trình, dự án nông nghiệp áp dụng công nghệ cao, danh mục công nghệ cao trong lĩnh vực nông nghiệp và tiêu chí nông nghiệp sạch…

Về phía một số công ty Việt, thời gian gần đây đã cập nhật xu thế và đâyn bắt thời cơ đầu tư vào nông nghiệp có các dự án diện tích trung bình và lớn, nhiều dự án số vốn đến hàng nghìn tỷ đồng, nhiều cánh đồng mẫu lớn đang hình thành, phát triển.

Đối có công ty nước ngoài, ông Toàn nói rằng về hành lang pháp lý, Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp 2014 và hệ thống văn bản của hai luật này đã giảm đáng kể các khác biệt giữa nhà đầu tư nước ngoài, công ty FDI có nhà đầu tư và công ty trong nước, hành lang pháp lý minh bạch hơn, thông thoáng hơn đối có nhà đầu tư và công ty trong đây có nhà đầu tư và công ty nước ngoài.

Các chính sách bán hàng tháo gỡ cho đầu tư phát triển nông nghiệp theo hướng công nghệ cao, nông nghiệp sạch, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho phát triển nông nghiệp, mở rộng hạn điền, phát triển nông nghiệp mô hình chuỗi giá trị hàng hóa… đang bước đầu phát huy hiệu quả, tạo động lực cho lôi kéo đầu tư trong đây có đầu tư nước ngoài vào nông nghiệp.

Dù vậy, ông nhấn mạnh vấn đề quy hoạch cho phát triển nông nghiệp đặc trưng là nông nghiệp sạch, nông nghiệp công nghệ cao, thi công chuỗi giá trị sản xuất hàng hóa cho nông nghiệp vẫn cần có lời giải thấu đáo và tương xứng có chủ trương ưu tiên cho phát triển nông nghiệp của chính phủ.

Bên cạnh đây, ông cũng lưu ý bài toán lợi ích giữa nhà nước, người nông dân, ngư dân, công ty, đặc trưng là quan hệ người nông dân và công ty. Nhất là khi các chính sách bán hàng mới như mở rộng hạn điền, chuyển đổi cây trồng vật nuôi, quyền sử dụng đất đai, thi công thương hiệu và chuỗi giá trị sản phẩm nông nghiệp… được triển khai, các vấn đề mới, các mâu thuân mới sẽ nảy sinh cần được lường định và có biện pháp khắc phục.

Vấn đề nguồn nhân lực để có thể áp dụng công nghệ cao cho nông nghiệp cần có tìm hiểu và biện pháp căn cơ vì trong thời gian qua, khi Việt Nam tập trung cho phát triển công nghiệp và dịch vụ, các lực lượng lao động trẻ, có trình độ văn hóa, sức khỏe và khả năng tiếp thu cái mới đều đổ về đô thị và một số khu công nghiệp để lại lỗ hổng rất lớn cho nguồn nhân lực có chất lượng ở nông thôn.

“Khoảng một sốh giữa chính sách bán hàng và điều hành thực thi chính sách bán hàng vẫn là vấn đề cần được quan tâm, khắc phục”, Phó Chủ tịch Hiệp hội đầu tư nước ngoài cho biết.

Sắp có chính sách bán hàng ưu đãi về đất cho công ty làm nông nghiệp?

Bạn đang xem chuyên mục Kinh Te VI Mo Dau Tu ở CTT.EDU.VN

Bạn nên click xem thêm tài liệu của trang nàyhttps://giakhanhland.vn/kien-thuc/

COMMENTS

WORDPRESS: 0
DISQUS: 0