Lãi suất trong ngắn hạn sẽ đứng ở mức cao

Các nhà đánh giá cũng cho rằng đang có nhiều nhân tố cộng xuất hiện khiến thanh khoản NHTM sụt giảm như nhân tố mùa vụ, mua ngoại tệ phục vụ nhu cầu

Khi dự án được Ngân hàng bảo chứng tiến độ và tài chính
Dự thảo hạ “hạn mức” khấu trừ VAT đối với chi tiêu tiền mặt khiến DN đau đầu
Đến lượt Vietinbank rao bán khoản nợ của địa ốc Gia Phú

Các nhà đánh giá cũng cho rằng đang có nhiều nhân tố cộng xuất hiện khiến thanh khoản NHTM sụt giảm như nhân tố mùa vụ, mua ngoại tệ phục vụ nhu cầu phân khúc và giải ngân vốn ngân sách tăng thêm, 1 số ngân hàng phải dự trù vốn theo đề nghị mới…

Bộ phận đánh giá SSI Retail Research của doanh nghiệp chứng khoán SSI vừa ra mắt báo cáo phân khúc tiền tệ tháng 11/2018.

Xuất hiện nhiều nhân tố hỗ trợ từ phân khúc địa cầu

Tháng 11 diễn ra rất nhiều sự kiện quan trọng mà cả địa cầu trông đợi. Đầu tiên là kết quả bầu cử Quốc hội Mỹ ngày 7/11/2018 đúng như kỳ vọng khi Đảng Dân chủ giành quyền kiểm soát Hạ viện trong khi Đảng Cộng hòa của tổng thống Trump giữ quyền kiểm soát Thượng viện. Ở châu Âu, vấn đề Brexit sau 1 thời gian dài bế tắc đã có bước ngoặt khi Anh và EU đã đạt được thỏa thuận sơ bộ. Italy cũng lên kế hoạch cắt giảm mức ngân sách mục tiêu từ 2,4% GDP xuống 2,0-2,1% trước các phản ứng cứng rắn của EU. Quan trọng nhất, căng thẳng thương mại Mỹ – Trung tạm lắng khi hai bên đã đạt được 1 số thỏa thuận ở cuộc gặp bên lề hội nghị thượng đỉnh G20.

Những diễn biến tích cực kể trên đã hỗ trợ cho sự ổn định của phân khúc tiền tệ toàn cầu trong tháng 11. Chỉ số DXY khoảng trong vùng 96-97 trong đấy đồng GPB tiếp tục mất giá 0,13% so có USD do sự chia rẽ sâu sắc trong Chính phủ và nội bộ nước Anh liên quan đến vấn đề Brexit, đồng EUR không đổi trong khi đồng JPY tăng giá 0,56% so có USD. Đà mất giá của đồng CNY được hãm lại, tỷ giá USD/CNY trong tháng duy trì ở mức 6,90-6,96.

Lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ kỳ hạn 10 năm tăng nhẹ trong tuần đầu tháng sau đấy giảm liên tục, về mức 3,03%/năm, giảm 11 điểm căn bản (bps) so có cuối tháng trước.

Một điểm rất đáng lưu ý là các con phố cong lợi tức trái phiếu của Mỹ càng ngày càng phẳng, chênh lệch lãi suất giữa 1 số kỳ hạn thu hẹp về mức thấp nhất trong 10 năm gần đấy. Lần gần nhất các con phố cong lãi suất phẳng như GĐ này là GĐ 2006-2007. Tuy nhiên, khác có khối bong bóng tài sản được tạo ra 1 sốh đấy 1 thập kỷ dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính 2007-2008, 1 số nhân tố nền móng của chính bản thân nước Mỹ và phân khúc tài chính toàn cầu GĐ GĐ này đã vững vàng hơn nhiều. Điểm chung duy nhất là việc FED liên tục nâng lãi suất làm tăng thêm kỳ vọng của giới đầu tư vào mặt bằng lãi suất cao trong ngắn hạn nên mất giá trái phiếu kỳ hạn ngắn khiến cho các con phố cong lãi suất bị làm phẳng.

Lãi suất vẫn… “nóng”

Lãi suất VND trên phân khúc liên ngân hàng sau khi tăng mạnh vào cuối tháng 10 đã duy trì mặt bằng cao trong suốt tháng 11. Kỳ hạn qua đêm khoảng trong vùng 4,7-4,9%/năm, có khi đạt tới 4,96%/năm- mức đỉnh trong vòng 5 năm gần đấy; kỳ hạn 3 tháng đã vượt và duy trì ở mức trên 5%/năm trong suốt cả tháng, hiện ở mức 5,2%/năm – chỉ còn 1 sốh lãi suất trần huy động có kỳ hạn dưới 6 tháng 30bps.

Lãi suất trên phân khúc 1 cũng tăng ở toàn bộ 1 số kỳ hạn, mạnh nhất là ở kỳ hạn từ 6 tháng trở lên. Tuy nhiên, mức độ tăng lãi suất ở từng ngân hàng khác nhau nên chênh lệch lãi suất huy động giữa 1 số NHTM là khá lớn. Hiện ở, lãi suất huy động kỳ hạn dưới 6 tháng đa số đã đẩy lên mức trần 5,5%/năm trong khi kỳ hạn 6 đến dưới 12 tháng khoảng 5,7%-7,6%, kỳ hạn 12-13 tháng khoảng từ 6,8-8,0% tùy vào từng ngân hàng.

Trong tháng 11, NHNN đã bơm ròng 1.885 tỷ đồng. Trong đấy, kênh tín phiếu có 2.100 tỷ đồng đáo hạn trong khi không có bất kỳ đợt phát hành nào. Trái lại, kênh chuyển nhượng kỳ hạn làm việc mạnh có bình quân gần 11.000 tỷ đồng/ngày cho mỗi chiều bơm/hút. Tính chung lại, NHNN hút ròng qua kênh này 215 tỷ đồng. Khối lượng OMO lưu hành duy trì ở mức cao gấp 1.6-2 lần khối lượng tín phiếu.

Nhiều nhân tố cộng xuất hiện khiến thanh khoản NHTM sụt giảm như nhân tố mùa vụ (tín dụng tăng trong khi huy động thường giảm vào các tháng cuối năm), mua ngoại tệ phục vụ nhu cầu phân khúc và giải ngân vốn ngân sách tăng làm giảm lượng tiền gửi của KBNN. Thêm vào đấy, 1 số NHTM cũng cần dự trù cho đề nghị giảm giới hạn mật độ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn từ 45% GĐ này xuống 40% từ 1/1/2019. Vì vậy, mặt bằng lãi suất trong ngắn hạn sẽ đứng ở mức cao.

Nhìn dài hơn, có 1 số nhân tố hỗ trợ cho sự ổn định lãi suất. Chỉ số CPI tháng 11 của Việt Nam đã giảm 0,29% so có tháng trước, ở mức 3,46% so có cộng kỳ năm trước – thấp hơn khá nhiều mức mục tiêu là 4%, giá dầu sụt giảm mạnh trong suốt 2 tháng qua cũng giải tỏa bớt sức ép có lạm phát, chủ tịch FED có các phát biểu mềm dịu hơn đối có kế hoạch tăng lãi suất như đã đề cập ở trên. Mặc dù vậy, các biến số này có thể 1 sốh tân rất mau chóng nên khó có thể đưa ra nhận định về lãi suất trong trung và dài hạn vào thời điểm này.

Tỷ giá được “kìm” nhờ nhiều nhân tố hỗ trợ

Trong tháng 11, NHNN đã nâng tỷ giá trọng điểm thêm 24 đồng/USD – gấp đôi so có mức nâng trong tháng 10, và cuối tháng ở mức 22.750 đ/USD. Tuy nhiên, tỷ giá chính thức giảm 25 đồng/USD về mức 23.275 – 23.365 và tỷ giá tự do giảm 60-65 đồng/USD về mức 23.405 – 23.420 đồng, thu hẹp chênh lệch giữa 2 tỷ giá này.

Bên cạnh nhân tố hỗ trợ từ cuộc gặp Mỹ -Trung và chênh lệch lãi suất VND-USD vẫn duy trì ở mức cao (trên 2%/năm), việc NHNN triển khai phân phối kỳ hạn ngoại tệ được hủy ngang vào 2 ngày 23 và 26/11 đã có tác động khá lớn về mặt tâm lý, cắt giảm nhu cầu nắm giữ ngoại tệ cũng như tài trợ thanh khoản VND cho 1 số NHTM. Bên cạnh đấy, NHNN đã triển khai lấy ý kiến có dự thảo thông tư sửa đổi thông tư 24/2015/TT-NHNN theo hướng thu hẹp đối tượng được vay ngoại tệ trên cơ sở làm chi tiết thêm về kỳ hạn và mục đích vay. Nhờ đấy, tỷ giá USD/VND duy trì ổn định và giảm nhẹ về cuối tháng.

Cũng theo 1 số nhà đánh giá, việc giữ tỷ giá USD/VND ổn định trong bối cảnh USD lên giá mạnh đã khiến cho VND lên giá trong tương quan có 1 số đồng tiền khác. Chỉ xét từ tháng 6 đến nay, VND đã tăng giá có đồng tiền của 1 số nước đối tác quan trọng là Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản và EU; mức tăng giá lần lượt là 5,6%, 2%, 1,2% và 0,4%.

Tỷ giá đang diễn biến “lạ”, sẽ ra sao trong thời gian tới?

Bạn đang xem chuyên mục tai chinh ngan hang của CTT.EDU.VN

COMMENTS

WORDPRESS: 0
DISQUS: