Liệu kinh tế Việt Nam có khủng hoảng năm 2019?

Sau một số cuộc khủng hoảng xảy ra ở Việt Nam một số năm 1979, 1989, 1999 và 2009, Chính phủ và giới quan sát đang lo ngại chu kỳ khủng hoảng cứ 10 n

7.700 doanh nghiệp nợ thuế bị cưỡng chế trích tiền từ tài khoản ở Hà Nội
Phó Thủ tướng nhấn mạnh 9 trọng tâm cải cách hành chính năm 2018
Vì sao chỉ có một doanh nghiệp cung cấp cồn E100 để pha chế xăng E5?

Sau một số cuộc khủng hoảng xảy ra ở Việt Nam một số năm 1979, 1989, 1999 và 2009, Chính phủ và giới quan sát đang lo ngại chu kỳ khủng hoảng cứ 10 năm 1 lần sẽ xuất hiện trở lại ở Việt Nam năm sau.

Những căn cứ cho lo ngại có thể xảy ra 1 cuộc khủng hoảng mới ở Việt Nam được chỉ ra gồm: độ mở rất lớn của nền kinh tế (tổng kim ngạch xuất nhập khẩu bằng 193% GDP năm 2017); nền móng và nguồn lực tăng trưởng trong nước có vấn đề.

Những mâu thuẫn của nền kinh tế nằm ở sự chia tách giữa một số khu vực như FDI và trong nước, kinh tế tùy thuộc nhiều vào FDI, hay dù hội nhập sâu rộng nhưng việc tận dụng, khai thác còn kém; sự chuyển dịch của dòng tiền từ phân khúc sản xuất vào phân khúc tài sản (đất đai, chứng khoán) dẫn đến bong bóng tài sản, và khi phân khúc quá nóng, bong bóng đổ vỡ có thể kéo theo sự khủng hoảng của nền kinh tế.

Tuy nhiên, công bằng mà nói thì một số căn cứ trên đều khá chung chung và, quan trọng hơn, không chỉ ra được vì sao khủng hoảng có khả năng sẽ nổ ra vào năm 2019 chứ không phải là 1 năm trước hoặc sau đây.

Cụ thể hơn, nếu nói về độ mở lớn của nền kinh tế để lo ngại khả năng đổ vỡ thì cần lưu ý rằng trên địa cầu có không ít quốc gia hoặc nền kinh tế mà tổng kim ngạch xuất nhập khẩu/GDP còn lớn hơn cả Việt Nam như Hong Kong (373 % GDP năm 2016), Luxembourg (407%), Malta (268%), Singapore (318%), Slovak (186%), Các Tiểu vương quốc Ả rập (205%), so có mức 185% năm 2016 của Việt Nam, theo số liệu của Ngân hàng Thế giới.

Như vậy, nếu chỉ căn cứ vào độ mở của nền kinh tế tính theo kim ngạch xuất nhập khẩu so có GDP thì chưa thể nói lên được tính mong manh, dễ vỡ của nền kinh tế. Bởi chỉ tiêu này còn phản ánh 1 thực ở là nền kinh tế sở ở có thể là 1 điểm trung chuyển hàng hóa, và Việt Nam cũng không phải là 1 ngoại lệ khi đã có hiện tượng hàng hóa nước ngoài đội lốt hàng Việt Nam xuất đi một số nước khác.

Hơn nữa, cũng không có chuẩn mực nào hay 1 trường hợp thực ở nào để tin rằng nếu độ mở này tiếp tục tăng và đạt, ví dụ, 200% GDP năm sau thì nền kinh tế Việt Nam sẽ gặp nguy khốn.

Về lý do nền móng và nguồn lực tăng trưởng trong nước có vấn đề và sự chia tách nền kinh tế thành 2 khu vực (FDI và trong nước), đây có thể là 1 thực ở. Nhưng, tương tự như lập luận ở trên, đâu là điểm ngưỡng để dẫn đến hiện trạng “quá mù ra mưa” nếu một số bất cập này tiếp tục tồn ở và phát triển làm bùng phát thành 1 cuộc khủng hoảng năm sau mà không phải là một số năm sau đây?

Về lý do bong bóng tài sản dẫn đến khủng hoảng kinh tế, đây cũng là 1 thực ở đã được chứng thực ở nhiều nơi trên địa cầu. Có điều, nếu nói rằng Việt Nam đang chứng kiến bong bóng BĐS và chứng khoán thì e rằng là hơi sớm, cần phải có nhiều dữ liệu và đánh giá thấu đáo hơn để làm hậu thuẫn cho kết luận này. Nhìn chung, giá BĐS có tăng lên mạnh nhưng không phải trên diện rộng, mà chỉ ở 1 số phân khúc, 1 số địa phương, vùng.

Còn có phân khúc chứng khoán, sau một số thăng hoa mấy tháng trước (nhưng không phải tăng trưởng kiểu tên lửa, ngày nào cũng tăng và tăng kịch biên độ), chỉ số chứng khoán đã quay trở lại GĐ lình xình, điều chỉnh mạnh trong mấy tuần gần đây. Trong khi đây, nguồn “dinh dưỡng” quan trọng nhất cho cả 2 phân khúc này bùng nổ là tín dụng ngân hàng thì đã bị siết lại từ 2, 3 năm nay, có tăng trưởng tín dụng chung cũng chậm lại đáng kể so có mấy năm trước.

Ngoài một số căn cứ được nêu ra bên trên, xin bổ sung thêm 1 số căn cứ khác thường được dùng để phán định liệu 1 nền kinh tế có phải là đang trong trạng thái tăng trưởng nóng để rồi đảm bảo sau đây sẽ rơi vào trạng thái đâyng băng và khủng hoảng hay không, mà có thể ứng dụng cho Việt Nam.

Căn cứ bổ sung Thứ nhất là lạm phát. Một thực ở chẳng thể phủ nhận là lạm phát ở Việt Nam thường cao hơn đáng kể so có một số nước trong khu vực và địa cầu, như được minh họa trong bảng dưới đây.

Liệu kinh tế Việt Nam có khủng hoảng năm 2019? - Ảnh 1.

Nguồn: Tính toán dựa trên số liệu của IMF (số liêu từ 2018 là ước tính)

Tuy nhiên, điều cần ghi nhận là Việt Nam đã khá thành công trong kiềm chế lạm phát trong hai thập kỷ qua. Đặc biệt là lạm phát của Việt Nam trong GĐ 2015-2019 thậm chí còn bằng hoặc thấp hơn cả của một số nhóm so sánh. Nói một sốh khác, dễ thấy là lạm phát tuy có xu hướng tăng lên ở Việt Nam trong năm nay và năm sau nhưng về tổng thể, lạm phát của Việt Nam không phải là ngoại lệ, cũng không phải là ngòi nổ làm bùng phát 1 cuộc khủng hoảng, ít nhất là trong năm sau.

Căn cứ bổ sung thứ hai là tốc độ tăng trưởng đầu tư. Ngược lại so có khu vực và địa cầu, đầu tư đã tăng trưởng chậm lại ở Việt Nam trong thập kỷ GĐ này so có 10 năm trước, đặc thù trong GĐ 5 năm từ 2015-2019.

Điều này được biểu hiện qua số liệu về tổng mức đầu tư trong nền kinh tế tính theo % GDP của Việt Nam và khu vực và địa cầu có trong bảng dưới đây. Như vậy, 1 trong một số nhân tố dẫn đến tăng trưởng kinh tế nóng và có thể làm sụp đổ 1 nền kinh tế là tăng trưởng đầu tư cao đã không hiện diện ở Việt Nam, nhất là trong nửa sau của thập niên này.

Tỷ lệ đầu tư/GDP của Việt Nam so có khu vực và địa cầu



Liệu kinh tế Việt Nam có khủng hoảng năm 2019? - Ảnh 2.

Nguồn: Tính toán dựa trên số liệu của IMF (số liệu từ 2018 là ước tính)

Cuối cộng, để biết 1 nền kinh tế có rơi vào tình trang nóng sốt hay không thì người ta cũng dựa vào chỉ số xuất/nhập siêu hoặc cán cân vãng lai. Nếu nhập siêu và/hoặc thâm hụt cán cân vãng lai là hiện tượng kinh niên thì nền kinh tế dễ bị tổn thương bởi nợ nước ngoài tăng cao dùng để bù đắp thâm hụt vãng lai.

Tuy nhiên, số liệu của IMF cũng cho thấy cán cân vãng lai của Việt Nam được dự báo sẽ chỉ bị thâm hụt trong 2 năm của thập kỷ này là năm 2010 và 2015. Do đây, có căn cứ để loại thâm hụt vãng lai như 1 nhân tố tiềm tàng gây ra khủng hoảng kinh tế ở Việt Nam trong một số năm tới, ít nhất là năm 2019.

Tóm lại, đánh giá ở trên cho thấy tuy nền kinh tế Việt Nam vẫn chứa đựng nhiều bất ổn nhưng chưa có bằng chứng xác đáng nào để lo ngại xảy ra 1 cuộc khủng hoảng kinh tế trong năm 2019 ở diện tích và cấp độ như đã từng được chứng kiến trong 3 thập kỷ trước.

Việt Nam phải tránh một số bất ổn kinh tế vĩ mô

Bạn đang xem chuyên mục Kinh Te VI Mo Dau Tu ở CTT.EDU.VN

COMMENTS

WORDPRESS: 0
DISQUS: 0