Năm 2035: Thu nhập bình quân đầu người Việt Nam đạt 10.000 USD

Khát vọng của Việt Nam đến năm 2035 là thịnh vượng, sáng tạo, công bằng và dân chủ có mục tiêu trở thành quốc gia có lương trung bình cao, đạt 10.000

Tăng lương 2019: Đang lấy ý kiến các thành viên Chính phủ
Vì sao xảy ra thất thoát vốn ở doanh nghiệp nhà nước?
Việt Nam xuất siêu hơn 21 tỷ USD sang EU trong 9 tháng đầu năm 2018

Khát vọng của Việt Nam đến năm 2035 là thịnh vượng, sáng tạo, công bằng và dân chủ có mục tiêu trở thành quốc gia có lương trung bình cao, đạt 10.000 USD/người/năm tính theo giá hiện hành.

Không cải 1 vàih và phát triển sẽ tụt hậu

Đó là chia sẻ của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư (Bộ KH&ĐT) Nguyễn Chí Dũng ở Diễn đàn thường niên về Cải 1 vàih và Phát triển Việt Nam (VRDF) lần thứ nhất có chủ đề “Tầm nhìn mới, động lực mới cho tăng trưởng kinh tế trong kỷ nguyên mới” hôm nay, 5/12.

Theo Bộ trưởng, thành quả quan trọng nhất của 30 năm đổi mới là đã làm 1 vàih tân hẳn bề ngoài kinh tế Việt Nam, cuộc sống người dân được cải thiện, mật độ nghèo đói giảm mạnh, Việt Nam đã trở thành nước có mức lương trung bình và hội nhập càng ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế địa cầu.

Đến hết năm 2017, diện tích dân số Việt Nam đạt dao động 94 triệu người, đứng thứ 14 trên địa cầu; diện tích nền kinh tế đạt dao động 220 tỷ USD, xếp thứ 34; lương bình quân đầu người đạt trên 2.300 USD; tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2017 đạt 6,81% và chuẩn bị năm 2018 có thể đạt cao hơn; chỉ số phát triển con người (HDI) đứng thứ 116/189 quốc gia; hệ số bất bình đẳng về bán lương (GINI) ở mức tích cực, 0,43 điểm.

Năm 2035: Thu nhập bình quân đầu người Việt Nam đạt 10.000 USD - Ảnh 1.

Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng thảo luận có Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc ở diễn đàn ngày 5/12. Ảnh: Tuấn Nguyễn

Theo Bộ trưởng Dũng, nền kinh tế Việt Nam 1 vài năm tới chờ mong cả 1 vài thách thức và thời cơ đan xen. Một số kịch bản kinh tế đã được đưa ra có triển vọng tăng trưởng trung bình của Việt Nam ước đạt 6,85% trong 1 vài năm 2018-2020. Mặc dù vậy, Chính phủ vẫn luôn ý thức được 1 vài thách thức và gặp khó, cả 1 vài vấn đề nội ở cũng như 1 vài tác động khách quan từ ngoại khu có thể ảnh hưởng tới sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam.

Vào tháng 2/2016, Chính phủ Việt Nam và Ngân hàng Thế giới đã ra mắt Báo cáo Việt Nam 2035 và báo cáo đã trở thành 1 tài liệu xem xét có giá trị đối có công tác hoạch định chính sách bán hàng phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam, đóng góp tích cực vào việc cụ thể hóa 1 vài chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước.

“Báo cáo đã đưa ra khát vọng của Việt Nam đến năm 2035, đó là: Thịnh vượng, sáng tạo, công bằng và dân chủ có mục tiêu Việt Nam trở thành quốc gia có lương trung bình cao, đạt 10.000 USD/người/năm tính theo giá hiện hành. Khát vọng này được thực hiện thông qua chương trình cải 1 vàih thể chế và 1 vài chính sách bán hàng hỗ trợ dựa trên ba trụ cột chính: Thịnh vượng về kinh tế đi cộng có bền vững về môi trường; Công bằng và hòa nhập xã hội; Nâng cao năng lực và trách nhiệm giải trình của Nhà nước”, Bộ trưởng cho hay.

Trong bối cảnh cuộc 1 vàih mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mau chóng, có tác động sâu rộng đến mọi mặt của cuộc sống kinh tế, xã hội của toàn bộ 1 vài quốc gia trên toàn địa cầu, làm 1 vàih tân mạnh mẽ từ tổ chức sản xuất, cung ứng dịch vụ, phương thức kinh doanh đến biện pháp tiêu dùng, biện pháp giao tiếp, thậm chí làm 1 vàih tân cả con người, Bộ trưởng Dũng cho rằng chúng ta đang đứng trước đề nghị lịch sử là phải đổi mới, cải 1 vàih mạnh mẽ, cơ bản để tiếp tục phát triển, đi lên. Vì nếu không thực hiện đồng thời cải 1 vàih và phát triển, chúng ta sẽ ngay lập tức bị tụt hậu so có thời đại.

Nguồn nhân lực chọn lọc thành công 1 vài động lực khác

Theo Bộ trưởng, đó là thời điểm “vàng” bởi chúng ta đang đứng trước 1 vài thời cơ quý như: mật độ dân số trong độ tuổi lao động cao, mật độ qua đào tạo càng ngày càng tăng; thời cơ về hội nhập quốc tế càng ngày càng sâu rộng; thời cơ tiếp cận và tận dụng cuộc 1 vàih mạng công nghiệp lần thứ tư; thời cơ về dòng vốn đầu tư từ 1 vài nền kinh tế phát triển, từ 1 vài tập đoàn đa quốc gia, xuyên quốc gia càng ngày càng chảy nhiều hơn vào 1 vài nước phát triển và 1 vài nền kinh tế mới nổi…

Tuy nhiên, để làm được điều này, chúng ta cần phải ý thức được 1 vài vấn đề gặp khó, thách thức phải giải quyết trong GĐ tới, nhất là 1 vài vấn đề về giải quyết mối quan hệ giữa cải 1 vàih và phát triển, trong cả nhận thức và hành động; tiên đoán và ứng phó được có 1 vài tác động bất lợi của cuộc 1 vàih mạng công nghiệp lần thứ tư trong bối cảnh phải: 1 mặt, phát hiện và tận dụng được 1 vài thời cơ do cuộc 1 vàih mạng này đem lại, nhất là trong 1 vài lĩnh vực công nghệ; cải thiện cho được 1 vài chỉ số cấu thành năng lực đổi mới sáng tạo của Việt Nam, nhất là về môi trường pháp lý, môi trường kinh doanh, hạ tầng, tiếp cận có công nghệ tài liệu và truyền thông;

Đồng thời, phải huy động tối đa mọi nguồn lực cho phát triển, nhất là nguồn lực của khu vực tư nhân, nguồn nhân lực chất lượng cao; phát triển khu vực kinh tế tư nhân năng động, hiệu quả, có năng lực tranh giành toàn cầu phải trở thành động lực quan trọng đối có tăng trưởng kinh tế đất nước; liên kết, hợp tác cộng phát triển giữa công ty trong nước có công ty nước ngoài; ứng phó hiệu quả có tác động của biến đổi khí hậu; giải quyết tốt 1 vài vấn đề xã hội, chắc chắn phát triển bền vững…; và mặt khác, cắt giảm được 1 vài thách thức, tác động tiêu cực của cuộc 1 vàih mạng này, nhất là việc sử dụng càng ngày càng rộng rãi robot thay thế cho con người.

Trên cơ sở xác định rõ nền kinh tế đang ở đâu trong quá trình phát triển, ý thức được 1 vài gặp khó, thách thức, nhận diện và tận dụng triệt để được mọi thời cơ, dù là nhỏ nhất, cho cải 1 vàih và phát triển, theo Bộ trưởng, chúng ta cần tập trung xác định 1 vài động lực quan trọng nhất cho tăng trưởng và phát triển.

Trong đó, động lực tăng trưởng nền tảng của nền kinh tế Việt Nam chính là cải 1 vàih thể chế kết hợp có tập trung nâng cao năng suất lao động, hiệu quả, năng lực tranh giành của công ty thông qua 1 vài chính sách bán hàng, biện pháp thích hợp, hữu hiệu, nhất là thúc đẩy áp dụng công nghệ cao; phát triển kinh tế tư nhân trong mối quan hệ hợp tác nghiêm ngặt có khu vực có vốn đầu tư nước ngoài; phát triển nguồn nhân lực, đó là nhân tố chọn lọc sự thành công và hiệu quả của toàn bộ 1 vài động lực khác.

Các chỉ số về năng lực tranh giành quốc gia và môi trường kinh doanh đạt nhiều tiến bộ đáng khích lệ. Năm 2017, năng lực tranh giành xếp hạng 55/137, tăng 5 bậc; môi trường kinh doanh xếp hạng 68/190, tăng 14 bậc; đổi mới sáng tạo xếp hạng 47/127, tăng 12 bậc. Trong nhóm 1 vài nước có lương trung bình thấp, Việt Nam đã vươn từ địa điểm thứ ba năm 2016 lên địa điểm thứ nhất.

Nông thôn mới: Thu nhập bình quân nông dân Hà Nội đạt mức 46 triệu đồng/năm

Bạn đang xem chuyên mục Kinh Te VI Mo Dau Tu ở CTT.EDU.VN

COMMENTS

WORDPRESS: 0
DISQUS: