Nên tăng vốn cho nhóm “Big4” ngân hàng như thế nào?

Rõ ràng là việc tăng vốn cho 1 số NHTM có vốn nhà nước đã không có nhiều chọn lọc mà chọn lọc nào cũng gặp khó... Mới đấy Ngân hàng Nhà nước (NHNN)

Chất lượng dịch vụ ngân hàng: Cần cái nhìn khách quan hơn
Huyền Như bị đề nghị tù chung thân, Võ Anh Tuấn 30 năm tù
Phát hiện nhóm người nước ngoài dùng thẻ tín dụng giả mua hàng

Rõ ràng là việc tăng vốn cho 1 số NHTM có vốn nhà nước đã không có nhiều chọn lọc mà chọn lọc nào cũng gặp khó…

Mới đấy Ngân hàng Nhà nước (NHNN) lại tiếp tục kiến nghị Chính phủ tham khảo trình Quốc hội để sửa đổi bổ sung theo hướng cho phép 1 số ngân hàng thương mại (NHTM) có vốn Nhà nước được đưa vào danh mục đầu tư công trung hạn. Cùng đây, 1 số bộ ngành liên quan được kiến nghị bố trí nguồn để NHTM có thể tăng vốn sau khi được phê duyệt.

Mục đích tăng vốn

Một trong các mục đích chủ yếu của việc tăng vốn của 1 số NHTM có vốn của nhà nước được cho là để cung cấp mật độ vốn an toàn tối thiểu (CAR) vốn đã tụt giảm xuống gần chạm ngưỡng hiện hành là 9%. Nếu theo nguyên tắc Basel II thì càng cần phải nâng vốn lên thậm chí gấp đôi giai đoạn này mới đạt nguyên tắc. Tăng vốn cũng là để mở rộng phạm vi tăng trưởng tín dụng bởi hạn mức tín dụng của cả ngân hàng nhìn chung và của ngân hàng cho từng bạn nói riêng tùy thuộc trước hết vào mức độ vốn tự có của ngân hàng.

Tuy nhiên, các nguyên nhân trên mới chỉ là xuất phát từ góc độ của từng NHTM. Ở góc độ quản lý nhà nước, NHNN nên/cần buộc 1 số NHTM có vốn nhà nước phải tăng cường vốn tự có của họ, nhằm mục đích chắc chắn an toàn hệ thống.

Cụ thể, có tư 1 sốh là các ngân hàng có tầm quan trọng có tính chiến lược, 1 số NHTM có vốn nhà nước không chỉ là 1 công cụ chính sách bán hàng thông qua đây NHNN điều tiết làm việc của hệ thống ngân hàng thương mại, mà còn đâyng vai trò là bệ đỡ giảm sốc cho hệ thống mỗi khi phải đối mặt có 1 số cú sốc nội khu và ngoại khu. Chuyện NHNN “huy động” 1 số NHTM có vốn nhà nước tham dự tái cơ cấu 1 số ngân hàng yếu kém là 1 minh chứng rõ cho vai trò quan trọng này của 1 số ngân hàng nói trên.

Hơn hết, do “quá lớn nên chẳng thể để đổ vỡ”, 1 số NHTM có vốn nhà nước – các ngân hàng đứng đầu hệ thống về diện tích tài sản trong hệ thống – cần phải luôn ở trong trạng thái khỏe mạnh để ít ra cũng không trở thành gánh nặng hỗ trợ mà đôi khi là quá sức có NHNN. Những bài học sống động từ 1 số cuộc khủng hoảng tài chính trên địa cầu được châm ngòi bởi sự đổ vỡ của 1 ngân hàng lớn nào đây cho thấy tầm quan trọng của việc buộc 1 số ngân hàng lớn phải luôn duy trì trạng thái vốn lành mạnh để chống đỡ được có 1 số bất ổn và rủi ro tín dụng mà không kéo theo sự đổ vỡ của cả hệ thống.

Trở ngại tăng vốn

Phương pháp tăng vốn Thứ nhất cho NHTM có vốn nhà nước là 1 sốh tân cơ cấu có cổ đông. Hiện ở, nhà nước là cổ đông chi phối của ba NHTM có vốn nhà nước đã cổ phần hóa là Vietcombank, Vietinbank và BIDV. Theo 1 sốh này, nhà nước có thể giảm mật độ có hoặc thoái vốn nắm giữ trong 2 ngân hàng là BIDV và Vietcombank (theo quy định hiện hành) cho 1 số cổ đông đã đi vào làm việc hoặc cổ đông mới thông qua 1 số đợt phát hành cổ phiếu tăng vốn cho nhà đầu tư (gồm nhà đầu tư nước ngoài) và/hoặc cho công chúng. Tuy nhiên, 1 sốh này đang vấp phải gặp khó là các quy định của NHNN, gồm nguyên tắc chọn lọc nhà đầu tư, giá bán, thời hạn nắm giữ tối thiểu và trần có nước ngoài v.v…

NHTM có vốn nhà nước có nhà nước là cổ đông chi phối còn có 1 1 sốh tăng vốn dĩ nhiên là nhà nước bổ sung vốn từ ngân sách, song song có việc bỏ vốn tương ứng của 1 số cổ đông còn lại. Nhưng 1 sốh này vấp phải gặp khó là Quốc hội không nhận lời cho Chính phủ dùng ngân sách nhà nước để tăng vốn điều lệ cho 1 số NHTM có vốn nhà nước, và không đưa nhu cầu bổ sung vốn cho 1 số NHTM có vốn nhà nước vào danh mục đầu tư công trung hạn.

Một 1 sốh tăng vốn phổ biến khác là giữ lại lợi nhuận (không trả cổ tức) để bổ sung vốn. Nhưng 1 sốh này cũng không được nhận lời khi Chính phủ kiên quyết đề nghị 1 số NHTM có vốn nhà nước phải trả cổ tức bằng tiền mặt (có thể có nguyên nhân căng thẳng ngân sách nhà nước).

Cách nào hợp lý hơn?

Rõ ràng là việc tăng vốn cho 1 số NHTM có vốn nhà nước đã không có nhiều chọn lọc mà chọn lọc nào cũng có các mâu thuẫn nội ở. Nên biện pháp có thể thực hiện ở đấy chỉ là chọn ra 1 biện pháp tăng vốn nào đây tỏ ra có tổn hại nhỏ nhất so có 1 số biện pháp còn lại.

Hiện ở, nếu thực hiện theo kiến nghị của NHNN – dùng ngân sách nhà nước – thì biện pháp này sẽ gây ra các tổn hại như:

(i) Làm căng thẳng thêm thâm hụt ngân sách và nợ công/nợ nước ngoài. Dù có thể lập luận rằng bổ sung vốn từ ngân sách sẽ giúp 1 số ngân hàng khỏe mạnh hơn, quyến rũ hơn nên, bởi thế, dễ cổ phần hóa/thoái vốn hơn trong tương lai (và được giá hơn) v.v… nhưng tương lai này là quá bất định để có tính thuyết phục so có cái giá phải trả nhìn thấy ngay trước mắt là tổn hại lớn cho ngân sách đang rất gặp khó và nợ công đã sắp chạm trần.

(ii) Đi ngược lại và làm phát triển chậm trình cổ phần hóa và thoái vốn nhà nước. Mặc dù việc Chính phủ trình Quốc hội tham khảo cho phép NHTM có vốn nhà nước được bổ sung vốn từ ngân sách là để cho thích hợp có quy định liên quan trong Luật đầu tư công, nhưng các hành động “tháo gỡ” bởi thế là tiền đề không tốt cho 1 số công ty nhà nước (DNNN) khác thoái thác cổ phần hóa và thoái vốn nói riêng và tính nghiêm minh của pháp luật nhìn chung. Trên hết, vẫn chưa thấy có lý giải thỏa đáng từ phía cơ quan quản lý vì sao lại phải dùng ngân sách nhà nước để tăng vốn cho các ngân hàng này mà không dùng các biện pháp khác (như bàn thêm ở phần dưới đấy)?

Nếu bổ sung vốn thông qua thoái vốn nhà nước, tăng mật độ có cổ đông phi nhà nước thì có mấy hậu quả có thể là bất lợi như sau:

(i) Nhà nước sẽ thất thu về cổ tức. Tuy nhiên, sự thất thu này chỉ đúng khi 1 số thước đo lợi nhuận (chẳng hạn ROA và ROE) của NHTM có vốn nhà nước là cao hơn của NHTM tư nhân. Nhưng giai đoạn này thì điều này không hoàn toàn đúng; vẫn có nhiều NHTM tư nhân làm việc hiệu quả hơn NHTM có vốn nhà nước. Nói 1 sốh khác, có lượng vốn nắm giữ ít hơn ở các ngân hàng tư nhân hiệu quả hơn thì nhà nước vẫn có thể thu về 1 lượng cổ tức không đổi, mà không nhất thiết phải đổ vốn vào NHTM có vốn nhà nước.

(ii) Nhà nước sẽ mất quyền chi phối 1 số chọn lọc làm việc trong ngân hàng, dẫn đến làm vô hiệu hóa công cụ thực thi chính sách bán hàng quan trọng này đối có NHNN. Tuy nhiên, do mật độ thoái vốn, nếu có, sẽ là không lớn, ít nhất trong thời gian tới đấy, nên nhà nước vẫn giữ được mức ảnh hưởng có tính chọn lọc có các ngân hàng này. Nếu cần, nhà nước có thể thêm 1 số điều kiện khi thoái vốn như duy trì quyền phủ quyết. Trên hết, trong cơ chế giai đoạn này, NHNN có nhiều quyền lực, bằng 1 sốh này hay 1 sốh khác, để buộc bất cứ 1 ngân hàng nào đây thực hiện chủ trương mà không cần phải duy trì mật độ có nhà nước quá lớn trong 1 số ngân hàng.

(iii) Tăng khả năng bị tranh đua, thôn tính và lũng đoạn của nhà đầu tư nước ngoài (gồm 1 số ngân hàng nước ngoài) có hệ thống ngân hàng. Điều này có thể phần nào sẽ là hiện thực nếu nhà đầu tư nước ngoài được nắm giữ mật độ có cao, chi phối. Nhưng thực ở và triển vọng của 1 số NHTM có vốn nhà nước cho thấy điều này là khó xảy ra trong các năm tới, ngoại trừ có các ngân hàng yếu kém, đang được tái cơ cấu (và nhà đầu tư nước ngoài có thể có 100%). Mà các ngân hàng này, do diện tích có hạn, không phải là công cụ chính sách bán hàng của NHNN, và cũng không phải là mối đe dọa tới sự an toàn và ổn định của hệ thống.

Và cuối cộng, nếu bổ sung vốn bằng 1 sốh cho phép 1 số NHTM có vốn nhà nước được giữ lại lợi nhuận, không chi trả cổ tức (bằng tiền mặt), việc này sẽ làm ảnh hưởng ngay đến thâm hụt ngân sách. Tuy vậy, diện tích và ảnh hưởng của việc này sẽ là nhỏ hơn so có việc nhà nước phải trích ngân sách ra để trực tiếp bổ sung vốn cho ngân hàng. Và suy cho cộng, có cộng lập luận rằng bổ sung vốn ngân sách cho ngân hàng là để cho nó khỏe hơn, hiệu quả hơn nên sẽ dễ thoái vốn sau này có giá cao hơn, việc cho phép ngân hàng giữ lại lợi nhuận nhằm bổ sung vốn cũng là nhằm đạt được cộng 1 mục đích bởi thế nhưng có phí tổn nhỏ hơn.

Tóm lại, việc cho phép NHTM có vốn nhà nước được giữ lại lợi nhuận và (kết hợp có) thoái bớt vốn nhà nước nắm giữ cho nhà đầu tư trong và ngoài nước sẽ là biện pháp hữu hiệu hơn là việc dùng ngân sách nhà nước để tăng vốn cho 1 số ngân hàng này.

Có bạn rất lớn nhưng chây ỳ, có dấu hiệu tẩu tán tài sản không chịu trả nợ

Bạn đang xem chuyên mục tai chinh ngan hang của CTT.EDU.VN

COMMENTS

WORDPRESS: 0
DISQUS: