Nghịch lý giúp sức cho Ngân hàng Nhà nước

Trong bối cảnh bất lợi, Ngân hàng Nhà nước vẫn đang kiểm soát tốt ba biến số vĩ mô quan trọng và thường tương khắc có nhau là tỷ giá, lãi suất và lạm

ACB báo lãi kỷ lục 3.151 tỷ đồng trước thuế, gấp 2,5 lần cùng kỳ
28/6 PG Bank tổ chức ĐHCĐ thường niên, bầu HĐQT nhiệm kỳ mới 2018-2023
Cấm nhập khẩu máy đào tiền ảo: Muộn còn hơn không!

Trong bối cảnh bất lợi, Ngân hàng Nhà nước vẫn đang kiểm soát tốt ba biến số vĩ mô quan trọng và thường tương khắc có nhau là tỷ giá, lãi suất và lạm phát. Yếu tố nào đã hậu thuẫn, giúp sức cho NHNN trong việc kiểm soát tương tối thành công những biến số này?

Đã qua 9 tháng của năm 2018 trong bối cảnh có nhiều bất lợi song Ngân hàng Nhà nước (NHNN) vẫn đang kiểm soát khá tốt ba biến số vĩ mô quan trọng và thường tương khắc có nhau là tỷ giá, lãi suất và lạm phát.

Cụ thể hơn, dù chịu sức ép lớn từ những tác động bất lợi của điều kiện ngoại khu như chiến tranh thương mại và sự mạnh lên của đồng USD tương ứng có đấy là sự yếu đi của nhiều bản tệ khác trong khu vực và địa cầu, độc đáo là Nhân dân tệ (CNY), tỷ giá VND/USD chỉ tăng dưới 3% từ đầu năm đến nay, 1 mức đồng ý được nếu so có mức yếu đi đến hàng chục điểm phần trăm của nhiều đồng tiền của những nền kinh tế mới nổi khác.

Với lạm phát, mức tăng cũng đang được khống chế trong phạm vi 4%, ngưỡng mà Quốc hội đặt ra cho Chính phủ. Lạm phát được kiềm chế ở mức này cũng có thể được gọi là 1 thành công khi giá cả hàng hóa địa cầu đã bình phục và có chiều hướng tăng, nhất là giá xăng dầu. Trong khi đấy, như đã thấy, dù tỷ giá đã được NHNN kiềm chế nhưng mức tăng gần 3% cho đến nay cũng phần nào tạo sức ép tăng giá cả trong nước qua kênh nhập khẩu.

Về lãi suất, sau 1 GĐ khá dài lãi suất liên ngân hàng được duy trì ở mức thấp, hiện đã có những dấu hiệu rõ ràng cho thấy lãi suất đang có xu hướng đi lên và điều này dường như đã lan sang phân khúc vay mượn giữa ngân hàng và công ty, cá nhân. Tuy nhiên, sức ép tăng lãi suất có lẽ chưa ở mức lớn như được biểu hiện ở lãi suất huy động cao nhất giai đoạn này cũng chỉ quanh quẩn 8%/năm có kỳ hạn 1 năm, nhưng cũng chỉ ở 1 ít ngân hàng thương mại cổ phần (TMCP) nhỏ, trong khi những ngân hàng TMCP khác chỉ điều chỉnh tăng nhẹ lãi suất huy động.

Như vậy, dù những biến số vĩ mô trên đã có những nhữngh tân theo hướng bất lợi từ quan điểm ổn định – có nghĩa là không biến động đáng kể – nhưng rõ ràng là duy trì được những biến số có tính tương khắc này ở mức như giai đoạn này, về lý thuyết, không phải là điều dễ làm, môi trường xung quanh có. Câu hỏi đặt ra đâu là nhân tố hậu thuẫn, giúp sức cho NHNN trong việc kiểm soát tương đối thành công những biến số này?

Để trả lời câu hỏi trên, trước tiên cần xuất phát từ công cụ chính sách bán hàng của ngân hàng trung ương nhìn chung, mà ở Việt Nam chính là NHNN. Về căn bản, công cụ chính sách bán hàng có tính kinh tế chủ yếu của NHNN là tăng hay giảm cung tiền đồng. Nếu muốn hỗ trợ tăng trưởng kinh tế thì NHNN sẽ phải hạ lãi suất, tức làm tăng cung tiền (giả sử những nhân tố khác, như chính sách bán hàng của Chính phủ, là không nhữngh tân). Nhưng việc này sẽ làm tăng thêm sức ép lên lạm phát, buộc NHNN nếu muốn kiềm chế lạm phát thì phải tăng lãi suất, tức giảm cung tiền đồng. Gia tăng cung tiền để hỗ trợ tăng trưởng cũng sẽ làm suy yếu bản tệ nên nếu muốn bảo vệ tỷ giá thì NHNN thường phải giảm cung tiền đồng (bán ngoại tệ từ quỹ dự trữ ngoại hối cũng chỉ là 1 hình thức giảm cung tiền đồng).

Như vậy, về lý thuyết, có cộng 1 mức tăng cung tiền, sẽ rất khó cho NHNN đạt được cộng khi nhiều mục tiêu như hỗ trợ tăng trưởng, kiềm chế lạm phát, ổn định tỷ giá. Giả sử những điều kiện khác không nhữngh tân thì để đạt được cộng khi nhiều mục tiêu này, NHNN sẽ phải dùng đến những công cụ phi kinh tế, gồm những phương pháp hành chính như kiểm soát vốn (capital control), ưu tiên cấp tín dụng cho 1 số lĩnh vực lựa chọn, đặt trần và sàn tỷ giá, lãi suất v.v… Tuy nhiên, vì là những phương pháp phi kinh tế nên chúng chỉ là những phương pháp ngắn hạn bởi những chủ thể kinh tế sẽ tìm ra những lỗ hổng để “lách”, sớm muộn sẽ làm mất hiệu lực của những phương pháp này. Chưa kể là nhiều phương pháp không có tính phân khúc sẽ bị những nước khác chỉ trích, khiếu nại.

Trên thực tại, những công cụ phi kinh tế trên đều đã được NHNN thi hành sớm thì cũng đã vài năm nay, nên về qui định thì chúng cũng chẳng thể phát huy tác dụng mãi hoặc có lại tác dụng đột biến theo hướng tích cực. Điều này có nghĩa là có thể đã có những nhân tố hỗ trợ nằm ngoài khả năng và phạm vi kiểm soát của NHNN.

Yếu tố danh tiếng phải kể đến là tăng trưởng kinh tế. Tốc độ tăng trưởng quý 3 năm nay đã lớn hơn quý 2, đưa tốc độ tăng trưởng 9 tháng đầu năm đạt gần 7% so cộng kỳ năm trước. Đây là 1 tốc độ tăng trưởng rất cao, độc đáo trong bối cảnh nhiều thử thách như giai đoạn này. Nếu xét đến sự tăng trưởng chậm lại rõ rệt của cung tiền như được biểu hiện qua tăng trưởng tín dụng 9 tháng đầu năm thì có thể nói không quá việc đạt được này là 1 nghịch lý, theo tư duy bình thường là nền kinh tế Việt Nam tùy thuộc nặng nề vào tín dụng ngân hàng nên để tăng trưởng cao hơn cần có tăng trưởng tín dụng cao hơn.

Dù nghịch lý trên có thể có nguyên nhân từ những phương pháp cải nhữngh môi trường kinh doanh mạnh mẽ của Chính phủ, sự phát triển của phân khúc chứng khoán cung cấp vốn cho công ty ngoài kênh tín dụng ngân hàng, hay sự tiếp tục tăng trưởng của khu vực FDI và dòng vốn FDI chảy vào nền kinh tế v.v… nhưng rõ ràng là việc nền kinh tế không còn đòi hỏi ngành ngân hàng phải liên tục mở rộng tín dụng để cung cấp nhu cầu tăng trưởng trên hết đã là 1 nhân tố rất thuận lợi cho việc điều hành chính sách bán hàng của NHNN.

Cụ thể hơn, do không còn bị thúc ép phải mở rộng tín dụng cung cấp nhu cầu tăng trưởng như trước đấy nên NHNN đã có điều kiện để duy trì 1 chính sách bán hàng tiền tệ thận trọng hơn, biểu hiện qua mức tăng trưởng tín dụng và huy động của ngành ngân hàng trong 9 tháng đầu năm đều ở mức thấp hơn đáng kể so có cộng kỳ năm trước. Đến lượt nó, tăng trưởng cung tiền có chừng mực đã không làm tăng thêm quá mức sức ép đồng thời lên lạm phát và tỷ giá, bởi thế cũng không làm tăng thêm quá mức lãi suất, như đã được chứng kiến. Nói nhữngh khác, NHNN thi hành được chính sách bán hàng điều hành “thận trọng và linh hoạt” – vốn vẫn được coi là chìa khóa cho sự thành công của NHNN – cũng là nhờ có sự giảm tùy thuộc của nền kinh tế vào tín dụng ngân hàng.

Tóm lại, sự thành công về mặt chính sách bán hàng của NHNN có sự đấyng góp có tính chọn lọc từ những nhân tố hỗ trợ ngoại khu (phạm vi của NHNN). Hàm ý chính sách bán hàng có thể rút ra được ở đấy là để ổn định kinh tế vĩ mô 1 nhữngh bền vững, trong dài hạn thì trước hết cần thực thi những phương pháp và công cụ có tính kinh tế để cắt giảm sự tùy thuộc của nền kinh tế vào tín dụng ngân hàng. Điều này độc đáo đúng khi NHNN chưa được độc lập có Chính phủ nên sẽ chẳng thể “đứng ngoài cuộc” khi Chính phủ cần biện pháp kích thích tăng trưởng ngắn hạn.

Đề cao tính độc lập của Ngân hàng Nhà nước, tự tin sức khỏe hệ thống

Bạn đang xem chuyên mục tai chinh ngan hang của CTT.EDU.VN

COMMENTS

WORDPRESS: 0
DISQUS: