Người lao động Việt Nam được thêm lợi ích gì khi Việt Nam ký kết CPTPP?

"Các FTA thế hệ mới đều đề nghị toàn bộ các nước tham dự phải thông qua và duy trì các quyền được nêu trong Tuyên bố năm 1998 của ILO trong pháp luật

Sắp ra điều kiện mới về sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu ôtô
Ông Nguyễn Đình Cung: Bộ Công Thương đang tư duy không nhất quán
WB: Điều chỉnh thuế phải gắn với kiểm soát chi tốt hơn để cân bằng tài khoá

“Các FTA thế hệ mới đều đề nghị toàn bộ các nước tham dự phải thông qua và duy trì các quyền được nêu trong Tuyên bố năm 1998 của ILO trong pháp luật, thể chế và thông lệ của họ”, ông Chang-Hee Lee, Giám đốc Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) cho biết.

Giám đốc ILO Chang-Hee Lee đã có các đánh giá về ý nghĩa của vấn đề lao động trong Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ Xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) đối có Việt Nam.

Quyền về lao động là 1 trong các vấn đề chính trong vòng đàm phán cuối cộng của CPTPP trước khi ký kết. Vậy ông có thể cho biết đó là gì và vì sao các vấn đề này lại quan trọng?

CPTTP cộng có EU-Việt Nam FTA (hiệp định thương mại tư do), được gọi là các FTA thế hệ mới, có đặc điểm là nhấn mạnh nhiều đến quyền lao động, cũng như bảo vệ tính bền vững của môi trường. Điều này đảm bảo rằng tự do thương mại sẽ đóng góp vào phát triển bền vững, đồng thời giúp người lao động và công ty cộng được hưởng lợi ích kinh tế 1 cách công bằng.

Giả sử quốc gia A – là nước phát triển hơn – và quốc gia B – kém phát triển hơn – có quan hệ thương mại. Việc mặt bằng thu nhập của người lao động ở nước A cao hơn nước B là chuyện dễ hiểu bởi nó phản ánh mức độ năng suất và phát triển của họ. Đây không phải là tranh giành không không công bằng.

Tuy nhiên, nếu nước B cho phép lao động chưa đủ tuổi tham dự sản xuất hàng hoá xuất khẩu trong điều kiện làm việc không đảm bảo có mức thu nhập thấp chẳng thể đón nhận được, trong khi nước A cấm việc này, thì đó có thể coi là tranh giành không công bằng, đi ngược lại các quy tắc đã thống nhất trên toàn cầu.

Thế giới đã đạt được đồng thuận về các quyền căn bản cần được toàn bộ các quốc gia tôn trọng, bất kể trình độ phát triển kinh tế của quốc gia đó ở mức nào. Sự đồng thuận này được quy định rõ trong Tuyên bố của ILO năm 1998 về Các Nguyên tắc và Quyền căn bản trong Lao động. Chương liên quan đến lao động của CPTPP và EU-Việt Nam FTA nhằm thực thi các quyền này.

Người lao động Việt Nam được thêm lợi ích gì khi Việt Nam ký kết CPTPP? - Ảnh 1.

Đồ hoạ: Hương Xuân

Ý nghĩa của chương lao động trong CPTPP đối có Việt Nam như thế nào, thưa ông?

Các FTA thế hệ mới đề nghị toàn bộ các nước tham dự phải thông qua và duy trì các quyền được nêu trong Tuyên bố năm 1998 của ILO trong pháp luật, thể chế và thông lệ của họ. Các quyền này được quy định trong 8 công ước căn bản của ILO, có nền móng gồm: tự do liên kết và công nhận hiệu quả quyền thương lượng tập thể (được quy định trong Công ước ILO số 87 và 98); loại bỏ toàn bộ các hình thức lao động cưỡng bức hoặc ép buộc (Công ước ILO số 29 và 105); xoá bỏ lao động trẻ em (Công ước ILO số 138 và 182), và xóa bỏ phân biệt đối xử trong việc làm và nghề nghiệp (Công ước ILO số 100 và 111).

Tất cả các quốc gia thành viên của ILO, bao gồm Việt Nam, đều phải tôn trọng các quyền này. Đây được coi là các quyền được ghi nhận trên toàn địa cầu trong xã hội tân tiến. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn chưa phê chuẩn ba công ước căn bản (Công ước số 87, 98 và 105) liên quan đến tự do liên kết, quyền thương lượng tập thể và loại bỏ lao động cưỡng bức.

Chương lao động của CPTTP dựa trên Tuyên bố 1998 của ILO. Chương này cũng đưa ra mối điện thoại giữa việc thực hiện Tuyên bố 1998 của ILO có các điều kiện thương mại trong 1 khuôn khổ thời gian nhất định, bao gồm cả các cách thức trừng phạt có thể ứng dụng.

Bên cạnh ý nghĩa về thương mại, tôi muốn nhấn mạnh rằng Việt Nam nên sử dụng điều này như 1 thời cơ để tân tiến hoá pháp luật lao động và hệ thống quan hệ lao động trong khung thời gian đã định.

Theo quan điểm của ILO, Việt Nam đã có các tiến triển như thế nào để dự định sẵn sàng cho việc thực hiện chương lao động của CPTPP?

Việt Nam đã công nhận nghĩa vụ này và thực hiện các bước để cung cấp đề nghị của CPTPP thông qua quá trình cải cách pháp luật lao động và thể chế hiện đang diễn ra. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã khẳng định lại sự cần thiết của cải cách vào ngày 17/1 vừa qua ở Hội nghị triển khai nhiệm vụ 2018 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội.

Người lao động Việt Nam được thêm lợi ích gì khi Việt Nam ký kết CPTPP? - Ảnh 2.

Trên thực ở, Việt Nam đã có các cải thiện đáng kể về khuôn khổ pháp luật lao động trong quá trình tiến tới nền kinh tế phân khúc định hướng xã hội chủ nghĩa kể từ thời kỳ Đổi mới. Trong các năm gần đó, diện bao phủ của sự bảo vệ về pháp luật đã được mở rộng dần đến người lao động trong nền kinh tế phi chính thức.

Đồng thời, việc điều chỉnh mức thu nhập tối thiểu đã trở thành 1 quá trình ba bên có sự tham dự của đại diện của Chính phủ, người lao động và người sử dụng lao động, thông qua Hội đồng Tiền thu nhập Quốc gia.

Tuy nhiên, vẫn còn đó 1 số điểm yếu trong pháp luật lao động và các thể chế liên quan đến quan hệ lao động. Đã có hơn 6.000 cuộc đình công kể từ giữa các năm 1990 và toàn bộ đều là đình công tự phát, không do công đoàn khởi xướng. Đây là 1 dấu hiệu rõ ràng cho thấy người lao động không nhận thấy ích lợi và mối quan tâm của họ được giải quyết và quy trình xử lý vấn đề không hiệu quả.

Tại Việt Nam, không hiếm trường hợp lãnh đạo công đoàn cơ sở lại là quản lý cao cấp của công ty, điều chẳng thể đón nhận được ở đa số toàn bộ các quốc gia trên địa cầu giai đoạn này. Quyền công đoàn là quyền của người lao động, và công đoàn là tổ chức của người lao động, không bị giới sử dụng lao động can thiệp.

Bằng cách truyền tiếng nói của người lao động thông qua thương lượng tập thể và đối thoại xã hội, công đoàn và hệ thống quan hệ lao động đóng góp vào ổn định chính trị và xã hội, đồng thời thúc đẩy cho thịnh vượng chung. Đó là bí kíp mà các nước khác đã cho thấy trong nền kinh tế phân khúc.

Tôi tin rằng việc sửa đổi Bộ Luật Lao động và đổi mới hệ thống quan hệ lao động thích hợp có Tuyên bố 1998 của ILO và bối cảnh của Việt Nam đảm bảo sẽ giúp ích cho vấn đề này.

Ngoài ra, như tôi đã đề cập, Việt Nam cần tiến tới phê chuẩn ba công ước căn bản còn lại – Công ước số 87 về tự do liên kết, Công ước số 98 về quyền thương lượng tập thể và Công ước số 105 về xoá bỏ lao động cưỡng bức. Việt Nam đã cam đoan thực hiện điều này thông qua chương phát triển bền vững của EU-Việt Nam FTA.

Vậy ILO sẽ làm gì để hỗ trợ Việt Nam đạt được mục tiêu trên?

Từ khi Việt Nam gia nhập ILO năm 1992, ILO làm việc không chỉ có Chính phủ, mà còn có Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, trong quá trình tân tiến hóa pháp luật lao động, cải thiện chính sách bán hàng quốc gia và tăng cường năng lực của các đối tác quốc gia nhằm đảm bảo việc làm bền vững cho toàn bộ phụ nữ và nam giới.

ILO sẽ tăng cường nỗ lực hỗ trợ cải cách pháp luật lao động và quan hệ lao động, không chỉ để Việt Nam thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ về lao động của CPTPP và EU-Việt Nam FTA, mà còn nhằm thi công và đã đi vào hoạt động khung pháp lý và hệ thống quan hệ lao động, phục vụ nhu cầu của người lao động, công ty và xã hội, hướng tới ổn định về chính trị và thịnh vượng chung.

Tôi tin tưởng rằng Việt Nam sẽ đã đi vào hoạt động sứ mệnh này vì tương lai của đất nước – 1 tương lai được thi công trên nền móng tăng trưởng năng suất, đổi mới, chia sẻ công bằng về lợi ích kinh tế, ghi nhận tiếng nói của cả người lao động và người sử dụng lao động, và ổn định chính trị – xã hội.

Cảm ơn ông!

Viện trưởng Viện Mekong: “CPTPP chủ yếu có lại lợi ích cho người giàu!”

Bạn đang xem chuyên mục Kinh Te VI Mo Dau Tu ở CTT.EDU.VN

Bạn nên click xem thêm tài liệu của trang nàyhttps://giakhanhland.vn/kien-thuc/

COMMENTS

WORDPRESS: 0
DISQUS: 0