Những quyết sách mang tính bước ngoặt của Cố Tổng Bí thư Đỗ Mười qua ký ức của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc

"Nhà lãnh đạo tài năng, Tổng Bí thư kiên định, sáng tạo trong sự nghiệp đổi mới" là nhận định của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc khi tưởng niệm về cố Tổn

Từ Uber-Grab… đến chính sách cho mô hình kinh tế chia sẻ
Phó Thủ tướng và Bộ trưởng Đào Ngọc Dung cùng giải thích về mô hình lao động “không giống với thế giới”
“Vinachem cần soi lại mình, cái gì còn trông chờ nhà nước phải bỏ ngay”

“Nhà lãnh đạo tài năng, Tổng Bí thư kiên định, sáng tạo trong sự nghiệp đổi mới” là nhận định của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc khi tưởng niệm về cố Tổng Bí thư Đỗ Mười. Báo Trí Thức Trẻ xin được đăng nguyên văn bài viết của Thủ tướng.

Là 1 học trò hoàn hảo của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, suốt đời tận tụy có Đảng, có Tổ quốc, hết lòng, cực kỳ phục vụ một vàih mạng, phục vụ nhân dân, đồng chí Đỗ Mười đã có một vài đóng góp lớn lao cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và thi công chủ nghĩa xã hội.

Đồng chí Đỗ Mười tham dự làm việc trong Cao trào một vàih mạng Dân chủ, năm 1939 được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Năm 1941, đồng chí bị chính quyền thực dân Pháp bắt, kết án 10 năm tù và bị giam ở nhà tù Hỏa Lò, Hà Nội. Năm 1945, đồng chí vượt ngục thành công, tham dự khởi nghĩa giành chính quyền ở Hà Đông và được cử giữ chức vụ Bí thư Tỉnh ủy Hà Đông.

Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, đồng chí giữ một vài chức vụ Bí thư Tỉnh ủy Hà Nam; Bí thư Tỉnh ủy, kiêm Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến – Hành chính tỉnh Nam Định; Bí thư Tỉnh ủy Ninh Bình; Khu ủy viên Khu ủy Khu III, phụ trách 2 tỉnh Ninh Bình và Hòa Bình; Phó Bí thư Liên Khu ủy III kiêm Phó Chủ tịch ủy Ban Kháng chiến – Hành chính Liên khu III, Chính ủy Tư lệnh Liên khu III; Bí thư Khu Tả ngạn Sông Hồng, kiêm Chủ tịch ủy ban Kháng chiến – Hành chính và Chính ủy Quân khu Tả ngạn Sông Hồng.

Đây là một vài địa bàn chiến lược trọng yếu, dưới sự chỉ huy của đồng chí Đỗ Mười, quân và dân Quân khu Tả ngạn đã làm thất bại nhiều chiến dịch quân sự của địch, trong đó có trận tập kích vào sân bay Cát Bi, Hải Phòng, đốt cháy hàng chục máy bay địch, góp phần vào thắng lợi của dân tộc.

Sau ngày hòa bình lập lại, đồng chí Đỗ Mười được phân công giữ nhiều chức vụ lãnh đạo, đứng đầu nhiều cơ quan Bộ, Ngành và Chính phủ. Trên cương vị Phó Thủ tướng Chính phủ, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng trong hơn 20 năm (1965-1986), đồng chí được giao phụ trách nhiều công việc quan trọng: Chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ; giải toả thủy lôi Cảng Hải Phòng; Trưởng Ban chi viện cho miền Nam; trên một vài công trường trung tâm của Nhà nước… nơi nào đòi hỏi sự chỉ đạo quyết liệt, kịp thời là đồng chí có mặt.

Sau chiến thắng mùa Xuân 1975, cả nước thống nhất, cùng có niềm vui khải hoàn dân tộc, là một vài gặp khó bộn bề sau cuộc chiến. Tiếp đó là hệ quả nặng nề của cuộc tổng điều chỉnh giá – thu nhập – tiền (tháng 10/1985); một vài bất cập trong quản lý kinh tế – xã hội, trong chính sách bán hàng đối ngoại… tác động mạnh đến mọi mặt của cuộc sống xã hội.

Sản xuất chưa cung cấp đủ nhu cầu tiêu dùng, phải sử dụng nguồn vốn vay và viện trợ của nước ngoài bù đắp 1 phần cho tiêu dùng. Là 1 nước nông nghiệp, sản xuất lúa gạo, nhưng thu nhập thực không đủ ăn, lạm phát trầm trọng, cuộc sống của nhân dân cực kỳ gặp khó.

Những hạn chế trong cơ chế quản lý kinh tế đã kìm hãm tính năng động, sáng tạo của người dân, cơ sở sản xuất. Nhiều xí nghiệp quốc doanh và hợp tác xã tiểu, thủ công nghiệp đình đốn, thua lỗ, thậm chí phải đóng cửa; số lượng lớn công nhân thất nghiệp. Hiệu lực quản lý Nhà nước sút kém.

Những hiện tượng tiêu cực, tệ nạn xã hội và dòng người di tản ra nước ngoài tiếp tục tăng thêm, gây nhiều gặp khó về kinh tế – xã hội, làm xáo động nhân tâm và là cái cớ để một vài thế lực phản động chống Việt Nam dưới chiêu bài “nhân quyền”, “dân chủ”, “tự do”.

Những quyết sách có tính bước ngoặt của Cố Tổng Bí thư Đỗ Mười qua ký ức của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc - Ảnh 1.

Tình hình đất nước đặt ra cho một vài người cùng sản Việt Nam phải giải quyết thách thức của lịch sử: “Đổi mới hay là chết”. Trên cương vị Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (từ tháng 9/1988 đến tháng 6/1991), đồng chí Đỗ Mười đã cùng tập thể Bộ Chính trị, đứng đầu là cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh thi công các con phố lối đổi mới, đưa ra một vài quyết sách có tính bước ngặt: Chống lạm phát; Xóa bỏ bao cấp về kinh doanh thu nhập thực, xuất khẩu, chính sách bán hàng thuế, một vàih tân giá và mật độ giá hối đoái, tính lại tiền thu nhập, quy định lãi suất ngân hàng…

Thực hiện chủ trương của Đảng, đồng chí Đỗ Mười lãnh đạo Hội đồng Bộ trưởng chỉ đạo triển khai quyết liệt nhiệm vụ chống lạm phát, tăng cường sản xuất và khai thác mọi nguồn hàng phục vụ tiêu dùng, cải thiện cuộc sống nhân dân; từng bước đổi mới cơ chế kế hoạch hóa, tạo quyền chủ động cho một vài cơ sở sản xuất, khai thác mọi tiềm năng, đi dần vào hạch toán kinh doanh, gắn sản xuất có phân khúc; điều hòa cung cầu ở tầm vĩ mô.

Để chống lạm phát, có nhiều ý kiến đưa ra để Chính phủ tham khảo, tiến hành. Theo Tổ chức Tiền tệ quốc tế (IMF) tính toán, phải có ba tỷ đôla mới giải quyết được lạm phát. Ba tỷ đôla khi bấy giờ chúng ta lấy đâu ra?

Đồng chí Đỗ Mười chỉ đạo: Chỉ có giải pháp duy nhất là phát huy nội lực, dựa vào dân, động viên nhân dân bằng lợi ích, để tạo ra một vài tiềm năng mới, đó cũng là tư tưởng của Bác Hồ: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu; Khó vạn lần dân liệu cũng xong”. Hội đồng Bộ trưởng đi đến thống nhất mấy vấn đề cần phải tập trung giải quyết và báo cáo Bộ Chính trị:

Trước hết, là đẩy mạnh sản xuất, thực hiện tiết kiệm và dồn trọng tâm chỉ đạo phát triển nông nghiệp; đẩy mạnh việc thực hiện cơ chế khoán hộ. Kết quả khiến cho sản xuất bung ra, giải quyết được cơ bản vấn đề thu nhập thực.

Hai là, khai thác mọi nguồn hàng trong nước và ngoài nước. Một giải pháp tình thế khi bấy giờ là, ai ra nước ngoài thì khuyến khích có hàng về. Nhà nước không đánh thuế. Vì thế, chỉ trong 1 thời gian ngắn, hàng về rất nhiều, phần nào cung cấp được đề nghị bức thiết trong sinh hoạt của nhân dân.

Nhưng đó chỉ là giải pháp tạm thời, để giải quyết tận gốc nạn khan hiếm hàng hóa tiêu dùng, phải tăng cường vận động nhân dân sản xuất, nhà nước có một vài chính sách bán hàng khuyến khích đầu tư, mở rộng sản xuất.

Ba là, để lôi kéo tiền ở trong dân, Chính phủ chủ trương nâng lãi suất tiết kiệm từ 3% lên 9%, ngang có mức giá của hàng hóa; ai gửi ba tháng thì thêm 3% nữa là 12%. Lúc đầu đồng chí cho làm thí điểm ở Hải Phòng, sau đó nhân rộng ra cả nước. Do có chính sách bán hàng khuyến khích tiền gửi, nhân dân yên tâm gửi tiền vào ngân hàng, tạo ra nguồn vốn phục vụ sản xuất.

Về phía Ngân hàng Nhà nước, Chính phủ quy định chặt chẽ Ngân hàng chỉ được nhận tiền mặt và cho vay, tài chính chỉ thu mà chi, không in thêm tiền. Sau 1 thời gian, một vài chính sách bán hàng kinh tế và tiền tệ của Chính phủ đã phát huy hiệu quả, đặc trưng là giảm lạm phát, từ chỗ lạm phát ba con số: 774% năm 1986, giảm xuống còn hai con số: 34% năm 1989; đến năm 1992 chỉ còn 14%.

Cùng có chống lạm phát, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười đề nghị Bộ Chính trị và Trung ương chấp nhận chủ trương xóa bỏ bao cấp, xóa bỏ ngăn sông cấm chợ, đưa hai giá về 1 giá…. Đó là một vài vấn đề quan trọng, là cơ sở thực tiễn để Đảng ta đề ra Cương lĩnh thi công đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991) và Chiến lược kinh tế – xã hội 10 năm (1991-2000).

Cương lĩnh của Đảng khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền móng tư tưởng” và “khiến cho địa cầu quan Mác – Lênin và tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh giữ địa điểm chủ đạo trong cuộc sống tinh thần xã hội”.

Đó là một vài quan điểm, các con phố lối đúng đắn, biểu hiện trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân ta, trong đó sự đóng góp cực kỳ quan trọng của đồng chí Đỗ Mười. Đồng chí đưa ra chủ trương phát triển mạnh mẽ công nghiệp nặng, tiến tới công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và thi công nền kinh tế độc lập tự chủ.

Tháng 6/1991, khi đồng chí Đỗ Mười được bầu làm Tổng Bí thư của Đảng ta cũng là khi Liên Xô và một vài nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ, khiến cho 1 bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân hoang có, khoảng, sụt giảm niềm tin vào con lối đi lên chủ nghĩa xã hội.

Tình hình kinh tế – xã hội của đất nước khi này tuy đã được cải thiện 1 bước, nhưng vẫn đầy rẫy một vài gặp khó. Nền kinh tế vẫn còn mất cân đối về nhiều mặt, phát triển chậm. Ngân sách bội chi lớn; giá cả bấp bênh. Nhiều tổ chức tín dụng ngoài quốc doanh bị vỡ nợ. Lao động thiếu việc làm, cuộc sống của 1 bộ phận dân cư gặp rất nhiều gặp khó.

Văn hóa, xã hội nhiều yếu kém, tệ tham nhũng, tiêu cực lan tràn, trật tự an toàn xã hội rất phức tạp. Tình hình địa cầu diễn biến phức tạp, một vài thế lực thù địch ra sức tuyên truyền chống phá, ảnh hưởng bất lợi đến nước ta.

Trên cương vị Tổng Bí thư, đồng chí đã cùng tập thể Bộ Chính trị lãnh đạo giữ vững ổn định chính trị, kiên định lập trường tư tưởng trong cán bộ, đảng viên và nhân dân; kiên quyết đi theo con các con phố tiến lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng và Bác Hồ đã chọn lọc.

Để tháo gỡ gặp khó, tiếp tục công cuộc đổi mới, phát triển đất nước, Bộ Chính trị xác định nhiệm vụ quan trọng nhất khi này là phá thế bao vây cấm vận, thông thường hóa quan hệ có Trung Quốc và Mỹ; chủ động gia nhập ASEAN, mở rộng quan hệ có một vài nước trong cùng đồng quốc tế.

Thực hiện trọng trách cao cả đó, từ ngày 5 đến 10/11/1991, chấp nhận mời của lãnh đạo Đảng, Nhà nước Trung Quốc, đồng chí Đỗ Mười dẫn đầu đoàn đại biểu cao cấp của Đảng, Nhà nước ta sang thăm chính thức Trung Quốc.

Kết thúc chuyến thăm, hai bên đã ra Thông cáo chung khẳng định: “Cuộc gặp cao cấp Việt – Trung đánh dấu sự thông thường hoá quan hệ Việt Nam và Trung Quốc thích hợp có lợi ích cơ bản và lâu dài của nhân dân hai nước và có lợi cho hoà bình và sự phát triển của khu vực”. Đây là thành tựu ngoại giao có ý nghĩa đặc trưng quan trọng của nước ta kể từ khi bắt đầu thực hiện các con phố lối đổi mới.

Sau sự kiện thông thường hóa quan hệ có Trung Quốc, đồng chí đã chỉ đạo tích cực phối hợp có phía Mỹ giải quyết vấn đề quân nhân Mỹ mất tích. Với tinh thần nhân văn theo truyền thống của dân tộc, để “khép lại quá khứ, hướng tới tương lai”; “vì hòa bình, ổn định, cùng phát triển”, Việt Nam đã khiến phía Mỹ phải ghi nhận sự thiện chí, trên cơ sở đó, ngày 11/7/1995, Tổng thống Mỹ Bill Clinton đã tuyên bố chính thức thông thường hoá quan hệ có Việt Nam.

Đây là dấu mốc đặc trưng quan trọng, đánh dấu việc nước ta đã phá vỡ hoàn toàn thế bị bao vây, cấm vận. Từ đó, đất nước có điều kiện thuận lợi để mở rộng hợp tác quốc tế, tranh thủ được một vài nguồn lực ngoại khu trong công cuộc chấn hưng đất nước.

Quan điểm chỉ đạo của đồng chí Đỗ Mười: “Việt Nam là quý khách, là đối tác tin cậy có toàn bộ một vài nước trên địa cầu” đã được triển khai bằng một vài làm việc tích cực, sôi động trên lĩnh vực ngoại giao Nhà nước và ngoại giao nhân dân, đưa lại hiệu quả lớn lao cho đất nước.

Không chỉ phá vỡ thế bao vây cấm vận, mà Việt Nam còn thiết lập nhiều mối quan hệ hợp tác có một vài đối tác trên cơ sở song phương và đa phương. Đó là thắng lợi cực kỳ quan trọng trên mặt trận ngoại giao, tạo tiền đề cho sự hợp tác toàn diện của đất nước ta có cùng đồng quốc tế, đưa nước ta thoát khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội, vững bước trên con các con phố hội nhập và phát triển.

Gần hai khóa làm Tổng Bí thư, đồng chí Đỗ Mười cùng tập thể Bộ Chính trị giữ vững vai trò cầm quyền của Đảng trong lãnh đạo, điều hành đất nước. Nhiều đề xuất của cá nhân đồng chí như việc triển khai thi công “Quy chế dân chủ ở cơ sở”; “Phong tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng”…; đều xuất phát từ thực ở khi đồng chí tiếp xúc có đồng bào, đồng chí hoặc một vài nhà lãnh đạo, chính khách nước ngoài; xuất phát từ nhiệt huyết, trí tuệ và tấm lòng vì nước, vì dân, một vài sáng kiến đó được nhân dân và bè quý khách lâu dài ghi nhớ.

Trên 80 năm làm việc và phấn đấu không mệt mỏi vì sự nghiệp một vàih mạng của dân tộc và hoàn hảo cùng sản cao đẹp, đồng chí Đỗ Mười đã có một vài đóng góp lớn lao cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và thi công chủ nghĩa xã hội.

Là 1 học trò hoàn hảo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí suốt đời tận tụy có Đảng, có Tổ quốc, hết lòng cực kỳ phục vụ một vàih mạng, phục vụ nhân dân. Dù ở bất cứ cương vị công tác nào, đồng chí đều đã đi vào hoạt động hoàn hảo nhiệm vụ được giao, đồng chí là tấm gương sáng về đạo đức một vàih mạng, năng lực làm việc, tư duy nhạy bén, sáng tạo và kiên định hoàn hảo cùng sản, có niềm tin mãnh liệt vào sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội và tương lai tươi sáng của đất nước.

Đồng chí là 1 cán bộ lãnh đạo mẫu mực, luôn tuân thủ kỷ luật của Đảng; sống trung thực, giản dị, gần gũi, hòa đồng có quần chúng; tôn trọng và lắng nghe ý kiến của đồng chí, của nhân dân. Với một vài làm việc và cống hiến đối có Đảng, một vàih mạng và dân tộc, đồng chí Đỗ Mười đã được Đảng, Nhà nước tặng thưởng nhiều danh hiệu cao quý: Huân chương Sao Vàng, Huy hiệu 80 năm tuổi Đảng cùng nhiều Huân, Huy chương cao quý khác.

Tháng 12/1997, ở Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương khoá VIII, sau 70 năm làm việc cống hiến liên tục cho Đảng, cho một vàih mạng, đồng chí Đỗ Mười đã xin không tiếp tục tham dự Ban Chấp hành Trung ương Khóa VIII. Trung ương đã chấp thuận ý nguyện của đồng chí và đã suy tôn đồng chí làm Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Trong suốt cuộc đời làm việc và cống hiến cho Đảng, cho dân, đồng chí luôn biểu hiện là người của hành động, luôn có mặt ở nơi đầu sóng ngọn gió, một vài nơi gặp khó ác liệt nhất, mạnh dạn, táo bạo, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm trước nhân dân, trước Đảng, luôn đặt lợi ích của nhân dân, của Tổ quốc lên trên hết, trước hết.

Suy nghĩ và việc làm của đồng chí luôn biểu hiện sự trăn trở của 1 công dân, của 1 nhà lãnh đạo, người đứng đầu của Đảng đối có sự nghiệp của đất nước, kể cả khi đã nghỉ hưu, sức khoẻ đã yếu. Đồng chí chưa bao giờ bằng lòng có một vài gì đã làm được, không say sưa, ngủ quên có một vài thắng lợi mà luôn tìm tòi theo một vàih nghĩ khám phá, sáng tạo.

Mỗi khi nhắc tới cuộc đấu tranh đầy hy sinh gian khổ, gặp khó, phức tạp vì độc lập, tự do của Tổ quốc, đồng chí coi đó là sự hy sinh của Đảng, của dân, điều đó chứng tỏ dân hết mình vì Đảng, giờ đó, Đảng phải làm gì cho dân để đáp lại sự hy sinh lớn lao và vô giá đó của dân.

Đồng chí Đỗ Mười luôn day dứt về nguy cơ tụt hậu của đất nước, về sự tăng trưởng dưới tiềm năng và vấn đề tận dụng thời cơ để bứt phá. Với tầm nhìn xa, tư tưởng nhân văn, đoàn kết, hòa hợp để chủ động khép lại quá khứ chiến tranh và hướng tới tương lai.

Đó là tầm nhìn trong kỷ nguyên toàn cầu hóa, đòi hỏi ý thức, một vàih làm của mỗi người phải tâm huyết, trí tuệ, bản lĩnh, đạo đức, nhân một vàih và phong một vàih của người cùng sản chân chính có nhận thức rõ về kết hợp sức mạnh của thời đại và dân tộc.

Theo đồng chí Đỗ Mười, đổi mới là sáng tạo, là biết khai thác, phát huy thế mạnh của đất nước, dân tộc, lịch sử, văn hóa và con người Việt Nam, vượt qua một vài trở lực về tư duy cũ kỹ, lạc hậu và phong một vàih lãnh đạo quan liêu, đem lại chất lượng cao cho công cuộc đổi mới và chủ nghĩa xã hội. Đồng chí Đỗ Mười là người luôn sát dân, sát cơ sở.

Tháng 3/1989, khi biết tin Hợp tác xã nông nghiệp Duy Sơn II, tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng làm được thuỷ điện có công suất nhỏ (0,4MW) vào thời điểm đất nước đang thiếu điện, đồng chí đã đến tận nơi, ra tận công trường nơi núi cao để thăm hỏi, động viên người lao động và bàn cơ chế hỗ trợ.

Khi làm Bí thư thành uỷ Hải Phòng, nghe tin Trường học sinh miền Nam ở đó gặp nhiều gặp khó, xa cha mẹ, xa gia đình, đồng chí đã chọn lọc cấp thêm gạo, quần áo, chăn ấm để một vài em ăn no, mặc ấm. Những học sinh miền Nam học tập ở Hải Phòng lâu dài ghi nhớ hình ảnh đồng chí Đỗ Mười, người lãnh đạo có tấm lòng nhân hậu.

Xuất phát từ tấm lòng yêu nước, trọng dân, thương dân, lòng tự hào dân tộc sâu sắc, đồng chí Đỗ Mười chủ động đến có nhân dân để hiểu dân, học dân, hỏi dân, bàn bạc có dân và tìm ra một vàih làm có hiệu quả nhất. Không giáo điều, rập khuôn, máy móc; miệng nói tay làm, nói ít làm nhiều, lấy hiệu quả làm thước đo, đồng chí Đỗ Mười đã làm đúng tinh thần lời dạy của Bác Hồ, người cán bộ khi nhận nhiệm vụ: “do nhân dân ủy thác thì phải cố gắng làm, cũng như 1 người lính vâng mệnh lệnh quốc dân ra trước mặt trận”.

Tấm gương cống hiến và hy sinh hết mình cho đất nước, cho nhân dân của đồng chí Đỗ Mười lâu dài sáng ngời. Tên tuổi của đồng chí đã và sẽ trở thành tượng đài sống mãi trong lòng mỗi cán bộ, đảng viên và người dân Việt Nam.

Lãnh đạo Đảng, Nhà nước viếng cố Tổng Bí thư Đỗ Mười

Bạn đang xem chuyên mục Kinh Te VI Mo Dau Tu ở CTT.EDU.VN

COMMENTS

WORDPRESS: 0
DISQUS: