Nike: Sự thay đổi của một biểu tượng về đối xử tàn tệ với người lao động

Trong gần 2 thập kỷ, Nike từ 1 công ty bị đánh đồng có những công xưởng tệ bạc đã trở thành công ty tiên phong về kinh doanh bền vững. "Sản phẩm của

Bitcoin hoàn toàn có khả năng trở nên vô giá trị
Warren Buffet khuyên gì khi ông mới chỉ có nửa tỷ USD?
Chuyên gia tiền mã hóa đang phát sóng trực tiếp trên YouTube thì bị hacker đánh cắp 2 triệu USD Ethereum

Trong gần 2 thập kỷ, Nike từ 1 công ty bị đánh đồng có những công xưởng tệ bạc đã trở thành công ty tiên phong về kinh doanh bền vững.

“Sản phẩm của Nike bị coi là đồng nghĩa có mức lương bổng rẻ mạt như nô lệ, công nhân bị ép buộc phải làm thêm giờ và sự độc đoán”, nhà sáng lập của hãng, Phil Knight, phát biểu trước những phóng viên ở Washington năm 1988. Khi đấy, gã khổng lồ về đồ thể thao đang chìm trong 1 loạt vụ bê bối được thắp lên bởi 1 nhóm những nhà vận hành tấn công vào những thương hiệu tiêu dùng nhằm cắt giảm hiện trạng lạm dụng lao động và ô nhiễm môi trường do những chuỗi cung ứng gây ra.

Năm 1996, tạp chí Life đăng tải những hình ảnh của 1 cậu bé 12 tuổi ở Pakistan đang cặm cụi khâu logo “swoosh” huyền thoại của Nike lên những quả bóng. Năm sau đấy, 1 báo cáo điều tra do Ernst&Young thực hiện riêng cho Nike nhưng đã bị rò rỉ cho thấy 77% công nhân ở 1 nhà máy gia công gặp phải những vấn đề về hô hấp, mức độ phơi nhiễm có chất gây ung thư cao gấp 177 lần cho phép. Các kênh truyền hình như CBS và ESPN thì phát đi những thước phim quay cảnh nội khu những công xưởng bóc lột công nhân tàn tệ – nơi những sản phẩm của Nike được làm ra.

Nike: Sự nhữngh tân của 1 biểu tượng về đối xử tàn tệ có người lao động - Ảnh 1.

Hình ảnh cậu bé Pakistani cặm cụi khâu logo trên những quả bóng Nike được tạp chí Life sử dụng để phàn nàn về Nike. Ảnh: MARIE DORIGNY/REA/REDUX

Trong khi những vụ bê bối bùng nổ, lập luận của Nike là họ không có quyền kiểm soát bên thứ ba là những nhà cung ứng. Nhưng rõ ràng đấy là nhữngh giải quyết vấn đề không thỏa đáng và không hề hiệu quả. “Công ty đã tiếp cận vấn đề theo hướng rất bảo thủ trong dao động 4-5 năm”, Hannah Jones – Phó chủ tịch phụ trách phát triển bền vững và sáng tạo và cũng là giám đốc bền vững (CSO) của Nike – giải đáp. Nhưng đấy cũng chính là trọn vẹn những gì thôi thúc Nike thực hiện chiến dịch đã nhữngh tân hoàn toàn hình ảnh của hãng xét trên khía cạnh phát triển bền vững.

Trước đấy là cố vấn về vận hành từ thiện và những chương trình vì cộng đồng cho những hãng lớn như Microsoft và Kimberly Clark, Jones gia nhập Nike vào năm 1998. Trong GĐ 1984 – 1998, doanh thu của Nike đã tăng vọt từ 919 triệu lên 9,6 tỷ USD. Tuy nhiên, tác động tiêu cực từ những vụ bê bối càng ngày càng lớn dần.

Các sự kiện khai trương cửa hàng không ngừng nghỉ bị phá đám bởi người biểu tình đòi ích lợi cho công nhân. Đến năm 1999, doanh thu giảm xuống còn 8,8 tỷ USD. Nike phân trần những lời chỉ trích không liên quan gì đến chuyện doanh thu sụt giảm, nhưng rõ ràng là hình ảnh của hãng đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

Trong gần 2 thập kỷ sau đấy, Jones đã giúp nhữngh tân Nike từ 1 công ty bị đánh đồng có những công xưởng tệ bạc trở thành công ty tiên phong về kinh doanh bền vững. Năm 2015, Nike được Morgan Stanley xếp hạng là công ty dệt may và da giày bền vững nhất ở khu vực Bắc Mỹ vì những thành tích đạt được trong vấn đề môi trường và xã hội, trong đấy có tiêu chí chế độ đãi ngộ lao động.

Nike: Sự nhữngh tân của 1 biểu tượng về đối xử tàn tệ có người lao động - Ảnh 2.

3 sự nhữngh tân lớn

Quay trở lại thời điểm tháng 5/1998, Phil Knight tung ra kế hoạch đào tạo 100 trong tổng số hơn 22.600 nhân viên của Nike về những vấn đề phát triển bền vững, đồng thời đề nghị những nhà cung ứng phải ứng dụng mức lương bổng tối thiểu. Tuy nhiên, kế hoạch không phát huy tác dụng. Báo cáo CSR năm tài khóa 2001 của Nike có đoạn: “1 nhóm 100 người chẳng thể giúp 1 tổ chức lớn như Nike chuyển đổi sang bền vững”.

Cũng trong năm 1998, Marc Kasky nộp đơn kiện Nike ở bang California, cáo buộc Nike đã báo cáo sai sự thật về điều kiện làm việc ở những nhà máy gia công. Từ đấy đến khi vụ kiện được dàn xếp vào năm 2003, Nike ngừng mở bán báo cáo CSR.

Theo Jones, Nike đã thực sự bắt đầu nghiêm túc tham khảo lại trọn vẹn quy trình kinh doanh để tìm xem có thể làm tốt hơn hoặc thậm chí là nhữngh tân hoàn toàn ở khâu nào, ví dụ như ở khâu mua nguyên vật liệu hay đào tạo để những nhà kiến trúc thấm nhuần tư tưởng kinh doanh bền vững. Từ những đánh giá này, bền vững từ “1 tiêu chí liên quan đến rủi ro và danh tiếng đã trở thành thứ được coi là thúc đẩy hiệu quả kinh doanh và sáng tạo”.

Kết quả là Nike thực hiện 3 sự nhữngh tân lớn trong chiến lược phát triển và duy trì chúng cho đến tận giai đoạn này. Đầu tiên, Nike cam đoan về sự minh bạch. Báo cáo CSR năm tài khóa 2004 công khai danh sách trọn vẹn những nhà cung cấp – thứ mà nhiều công ty coi là “lợi thế tranh đua lớn nhất”. Như vậy những tổ chức phi chính phủ (NGO) sẽ ngay tức thì cảnh báo Nike nếu họ nhìn thấy bất cứ vấn đề nào.

Nike cũng tiếp cận có những công ty khác trong ngành, cộng có những đại học và những tổ chức NGO sáng lập nên Hiệp hội lao động công bằng (FLA). Thực tế là kể cả 1 công ty lớn như Nike cũng chỉ chiếm dao động 5% vận hành kinh doanh của 1 nhà cung ứng, bởi thế thật khó có thể đề nghị nhà cung ứng đấy nhữngh tân. “Nếu chỉ đơn lẻ Nike đề nghị, quản lý nhà máy sẽ nói thà mất mối làm ăn có Nike còn hơn là phải đầu tư cho những nhữngh tân không thực sự cần thiết”, Jones chia sẻ.

Nike: Sự nhữngh tân của 1 biểu tượng về đối xử tàn tệ có người lao động - Ảnh 3.

Cuối cộng, Nike gắn kết nghiêm ngặt nhân tố bền vững có quá trình sáng tạo cải tiến. Từ năm 1992, Nike chi dao động 50 triệu USD cho công tác R&D để đổi khí gas trong đế giày Nike Air từ FS6 – 1 chất có thể gây nên hiệu ứng nhà kính, 1 phần lý do khiến trái đất nóng lên – sang khí nitrogen. Chính sự nhữngh tân này đã dẫn đến dòng sản phẩm thành công vang dội Airmax360. Ví dụ này cho thấy chú trọng tính bền vững hoàn toàn có thể đem lại lợi ích về mặt kinh doanh.

Chiến lược phát triển bền vững của Nike phủ sóng rộng khắp, từ khâu kiến trúc đến quá trình sản xuất, bán. Từ năm 2009, trách nhiệm công ty được đưa vào là 1 trong những tiêu chí tính KPI. Ngày nay, 57.000 nguyên liệu trong dây chuyền sản xuất của Nike được xếp hạng về môi trường.

86% những nhà máy ký hợp đồng có Nike được xếp hạng đồng trở lên theo chỉ số sản xuất bền vững SMSI của hãng, 1 công cụ nội bộ xếp hạng những nhà máy dựa trên những nhân tố sức khỏe, mức độ an toàn, mức lương bổng và tác động đến môi trường. Nike đặt mục tiêu đến năm 2020 mật độ sẽ tăng lên 100%.

Kể từ năm 2013, Nike cắt giảm 12% số nhà máy mà nó làm việc cộng – từ 785 xuống còn 692 – để tập trung vào mối quan hệ hợp tác sâu hơn và lâu dài hơn. “Đó là khi những nhà máy thực sự bắt đầu đầu tư cho công nhân của họ”, Jones nói.

Mặc dù những sáng kiến về kinh doanh bền vững của Nike ra đời để phản ứng có những bê bối trong quá khứ, giờ đấy chúng đã trở thành công cụ bảo vệ hiệu quả cho tương lai của Nike trong 1 địa cầu mà những công ty càng ngày càng chịu sức ép lớn hơn về chuyện cắt giảm rác thải và biến đổi khí hậu đe dọa làm gián đoạn nguồn cung những nguyên liệu thô như bông và da.

Giấc mơ đại học của 1 công nhân nhà máy Samsung Việt Nam

Bạn đang xem chuyên mục Tai Chinh Quoc Te ở CTT.EDU.VN

COMMENTS

WORDPRESS: 0
DISQUS: