Thị trường mỹ phẩm Việt Nam 2,3 tỷ USD nhưng doanh nghiệp trong nước chỉ được hưởng 10% thị phần, vì đâu nên nỗi?

Nếu so sánh toàn cầu, phân khúc mỹ phẩm của Việt Nam có diện tích tương đối nhỏ, nhưng đang tăng trưởng mau chóng. Dân số thuộc tầng lớp trung lưu V

Rót tỷ “đô” vào Khu kinh tế Đình Vũ – Cát Hải, Vingroup được nhiều ưu đãi
Ngành chè ‘đánh rơi’ 1.000 tỷ đồng mỗi năm
Góc nhìn: Tẩy chay Big C hay “gáo nước lạnh” cho doanh nghiệp Việt tỉnh ngộ?

Nếu so sánh toàn cầu, phân khúc mỹ phẩm của Việt Nam có diện tích tương đối nhỏ, nhưng đang tăng trưởng mau chóng.

Dân số thuộc tầng lớp trung lưu Việt Nam chuẩn bị ​​sẽ tăng lên 33 triệu vào năm 2020. Năm nay, theo dữ liệu từ Mintel, 1 công ty nghiên cứu kỹ phân khúc toàn cầu có trụ sở ở London: phân khúc mỹ phẩm của Việt Nam trị giá dao động 2,3 tỷ USD.

Hiện ở, một số thương hiệu nước ngoài chiếm 90% thị phần mỹ phẩm của Việt Nam, có Hàn Quốc đứng đầu là nhà cung cấp danh tiếng trong khu vực châu Á. Âm nhạc, thời trang và nội dung phim điện ảnh, phim truyền hình Hàn Quốc là cực kỳ phổ biến trên khắp châu Á. Việc xuất khẩu văn hóa thành công khiến sự phát triển vượt bậc trong lĩnh vực mỹ phẩm của họ là dễ hiểu, nhất là khi Hiệp định thương mại tự do Việt Nam-Hàn Quốc 2015 đã cắt giảm thuế quan giữa hai nước. Bên cạnh đây là sự tăng lên không ngừng của một số dịch vụ phẫu thuật thẩm mỹ, biện pháp làm đẹp, liệu pháp và một số chế phẩm chống lão hóa.

Theo số liệu do Hiệp hội Hóa Mỹ phẩm Thành phố Hồ Chí Minh cung cấp, Hàn Quốc chiếm mật độ lớn nhất trong doanh số phân phối mỹ phẩm ngoại ở Việt Nam có 30% thị phần. EU đứng ở địa điểm thứ hai có 23%, thứ hai là Nhật Bản (17%), Thái Lan (13%) và Mỹ (10%), một số quốc gia còn lại đâyng góp 7%.

Thị trường mỹ phẩm Việt Nam 2,3 tỷ USD nhưng công ty trong nước chỉ được hưởng 10% thị phần, vì đâu nên nỗi? - Ảnh 1.

Theo Công ty Nghiên cứu phân khúc Nielsen, mức chi của người tiêu dùng Việt Nam cho mỹ phẩm chưa nhiều, bình quân chỉ 4 USD 1 người mỗi năm, trong khi Thái Lan là 20 USD. Chỉ chiếm dao động 10% thị phần, một số công ty mỹ phẩm Việt Nam đang nỗ lực giành lại phân khúc có doanh thu quyến rũ này. Chính điều này khiến phân khúc mỹ phẩm Việt Nam rất tiềm năng cho một số hãng khai thác và củng cố sức mạnh.

Các công ty mỹ phẩm Việt Nam giai đoạn này, có 10% thị phần, chỉ trụ được ở phân khúc giá rẻ và xuất khẩu sang 1 số phân khúc kế bên (90% một số công ty mỹ phẩm Việt Nam là đại lý phân phối của một số nhà mỹ phẩm nước ngoài). Hầu hết mỹ phẩm ngoại đều chiếm lĩnh một số trọng tâm thương mại.

Công ty Mỹ phẩm Sài Gòn, có kênh phân phối chủ yếu tập trung ở vùng nông thôn và một số khu chợ, mỗi năm tiêu thụ dao động 500.000 chai nước hoa, giá trung bình 60.000 đồng 1 chai 50ml. Ngoài ra, lượng xuất khẩu qua Campuchia, Lào, Thái Lan… chiếm 40% doanh thu. Tuy nhiên, cho đến nay thương hiệu nước hoa của công ty này vẫn chưa có mặt được ở một số trọng tâm thương mại, bị xem là 1 bất lợi, đặc trưng là có dòng sản phẩm làm đẹp. Tương tự, Công ty Mỹ phẩm Lan Hảo – Thorakao cũng cho biết các năm gần đây tăng trưởng của Thorakao ở phân khúc trong nước là 30%, song phân khúc xuất khẩu vẫn là chủ lực.

TS. Nguyễn Văn Minh – Phó Chủ tịch Hiệp hội Tinh dầu – Hương liệu – Mỹ phẩm Việt Nam giải đáp một số lý do chính cản trở sự phát triển của một số công ty mỹ phẩm trong nước.

Thứ nhất, có việc chỉ tập trung vào chất lượng mà thiếu sự quan tâm đến bao bì, mẫu mã, PR thương hiệu, mỹ phẩm Việt đã bị thua thiệt ngay trên sân nhà.

Thị trường mỹ phẩm Việt Nam 2,3 tỷ USD nhưng công ty trong nước chỉ được hưởng 10% thị phần, vì đâu nên nỗi? - Ảnh 2.

Thứ hai, 1 số nhãn hàng xác định phân khúc trọng tâm là xuất khẩu chứ không phải trong nước nên họ không chi mạnh cho quảng bá ở Việt Nam. Chính bởi thế, người tiêu dùng không biết đến tên của một số sản phẩm chất lượng trong nước. Tên một số nhãn hàng và sản phẩm mỹ phẩm Việt còn xa lạ có người tiêu dùng vì chưa có đầu tư vào quảng cáo, quảng bá thương hiệu rộng rãi.

Kế đây, đối có người dùng, đặc trưng là phụ nữ, mỹ phẩm còn biểu hiện phong một sốh, cấp cao của họ. Nhưng mỹ phẩm Việt lại chưa thi công được thương hiệu trên phân khúc, chất lượng sản phẩm nội địa cũng chưa được đồng đều và đồng bộ giữa đồ trang điểm và mặt hàng chăm sóc da.

Chưa kể đến trong ngành công nghiệp mỹ phẩm, đa số một số hãng đều phải mua nguyên liệu từ 1 số nguồn căn bản. Ví dụ nhập nguyên liệu hóa chất từ Đức, tinh dầu thảo mộc từ Pháp, hay nguyên liệu cây, cỏ, hoa… từ Ấn Độ, Philippines.

Việt Nam hầu như chỉ thực hiện pha chế và phân phối hàng. Tuy nhiên, khâu chọn lọc là chiến lược quảng bá thương hiệu thì lại không được làm triệt để. Theo nhiều chuyên gia trong ngành mỹ phẩm, nhập khẩu thành phẩm thay vì nhập khẩu nguyên liệu như trước sẽ lợi hơn rất nhiều về chiến lược đầu tư.

Những năm qua một số công ty mỹ phẩm Việt Nam đã gắng sức cải tiến công nghệ để phát triển, nhưng do đa số là công ty vừa và nhỏ nên chẳng thể đuổi kịp công nghệ của một số tập đoàn lớn. Ở phân khúc hàng cấp cao, mỹ phẩm ngoại chiếm gần hết thị phần, vì công ty nội không có chi phí đầu tư phát triển sản phẩm, quảng bá thương hiệu.

Việt Nam, tình thế có tiền mà khó tiêu và nhân tố mới xuất hiện

Bạn đang xem chuyên mục Kinh Te VI Mo Dau Tu ở CTT.EDU.VN

COMMENTS

WORDPRESS: 0
DISQUS: