Thông tư 13/2018/TT-NHNN – Đâu là các thay đổi và tác động?

Sau 1 thời gian dự trù khá công phu, Thông tư 13/2018/TT-NHNN quy định về hệ thống kiểm soát làm việc đã được Ngân hàng Nhà nước ban hành. Nội dung

Tạm giữ 6 người Đài Loan lừa đảo chiếm đoạt 7 tỉ đồng
Tỷ giá tăng mạnh, NHNN nói gì?
Agribank đấu giá tài sản của Khoáng sản Miền Trung với giá 284 tỷ đồng

Sau 1 thời gian dự trù khá công phu, Thông tư 13/2018/TT-NHNN quy định về hệ thống kiểm soát làm việc đã được Ngân hàng Nhà nước ban hành.

Nội dung của Thông tư này bao hàm rất nhiều lĩnh vực như Kiểm soát nội bộ, Tuân thủ, Quản lý rủi ro, Đánh giá mức độ đủ vốn (ICAAP), Kiểm toán nội bộ (“KTNB”),… có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2019 (riêng quy định về phân tách mức độ đủ vốn có hiệu lực từ ngày 1/1/2021).

Ông Phạm Đỗ Nhật Vinh, Giám đốc – Dịch vụ Tư vấn Rủi ro ngành Tài chính Ngân hàng, Công ty TNHH Thuế và Tư vấn KPMG đã có những chia sẻ thông qua những buổi tọa đàm giữa KPMG có Cơ quan quản lý, lãnh đạo đẳng cấp của những ngân hàng trong nước và quốc tế. Những buổi thảo luận chuyên sâu có những Giám đốc Quản lý Rủi ro (“CRO”), lãnh đạo KTNB, những chuyên gia ngành, những băn khoăn về phương thức triển khai, nguồn lực tài chính và nhân sự cần có,…đã được những bên chia sẻ thẳng thắn. Tuy nhiên, điều quan trọng không kém, thậm chí còn quan trọng hơn được đặt ra, đấy là những tác động, nhữngh tân nào sẽ diễn ra trong vài năm tới và sự nhữngh tân này sẽ định hình, điều chỉnh làm việc kinh doanh ngân hàng như thế nào.

Thông qua bài viết, chúng tôi xin gửi lời cám ơn sự chia sẻ từ góc nhìn thực tiễn của những ngân hàng. Dựa trên những quan điểm này cộng có hiểu biết sâu sắc trong ngành và những tìm hiểu của KPMG, bài viết xin được đưa ra 1 số nhìn nhận về những nhữngh tân có thể diễn ra trong thời gian tới.

Áp lực tăng vốn sẽ vẫn là mối quan tâm danh tiếng

Áp lực tăng vốn chủ có đã được nhìn thấy trong thời gian gần đấy khi ngày hiệu lực của Thông tư 41/2016/TT-NHNN sắp đến gần (1/1/2020). Xu hướng này chắc chắn sẽ tiếp tục được nhìn thấy trong những năm tới khi ngoài việc cung cấp những đề nghị của Thông tư số 41/2016/TT-NHNN, những ngân hàng tiếp tục cần thêm vốn để bù đắp cho những rủi ro trọng yếu mà thường chúng ta nói đến là rủi ro của Trụ cột II. Khi kết hợp có những đề nghị an toàn vốn sau khi thực hiện kiểm tra sức chịu đựng (capital stress test), nhu cầu tăng vốn nhằm chắc chắn mật độ tối thiểu 8% là nguyên nhân chủ yếu đẩy nhanh kế hoạch tăng vốn của những ngân hàng.

Dự đoán này cũng thích hợp có những kết quả khảo sát toàn cầu của KPMG. Trong 1 báo cáo gần đấy, khi thực hiện khảo sát về đề nghị vốn của KPMG, hằng năm số đông những ngân hàng đều cảm thấy đề nghị về vốn cần tăng lên sau mỗi lần rà soát định kỳ chương trình an toàn vốn nội bộ (ICAAP) (Hình 1).

Thông tư 13/2018/TT-NHNN – Đâu là những nhữngh tân và tác động? - Ảnh 1.

Trên thực tại, phần vốn dành cho Trụ cột II ở 1 số ngân hàng trong khu vực và địa cầu có thể chiếm từ 16% đến hơn 20% cơ cấu vốn và chiếm tỷ trọng nhiều hơn tổng phần vốn dành cho rủi ro làm việc và rủi ro phân khúc. Do đấy, để duy trì 1 mật độ an toàn vốn hợp lý, việc tăng vốn sẽ là khó tránh khỏi đối có những ngân hàng có mức đệm an toàn vốn còn đang mỏng.

Thay đổi cơ bản nền móng quản trị ngân hàng, chắc chắn cơ chế “kiểm tra và cân đối” được thực thi

Quản trị công ty nhìn chung và quản trị ngân hàng nói riêng là rất cần thiết để thi công và duy trì sự tín nhiệm và lòng tin của công chúng đối có hệ thống ngân hàng. Trong 5 năm vừa qua, chúng ta cũng chứng kiến những “sự cố” nghiêm trọng trong ngành đã gây ra những hệ lụy và tổn thất lớn đòi hỏi nhiều thời gian và kinh phí khắc phục. Những hệ lụy này hoàn toàn có thể khiến phân khúc mất niềm tin vào hệ thống và có thể châm ngòi cho việc rút tiền vô vàn cũng như nguy cơ mất khả năng chi trả và tê liệt hệ thống. Tình trạng có chéo, nhập nhằng giữa công dụng giám sát và điều hành là những tác nhân gây ra sự sụp đổ này. Nói nhữngh khác, cơ chế kiểm tra và cân đối (check and balance) đã bị suy giảm và không hoạt động trong tổ chức.

Trong cuộc điều tra sau cuộc khủng hoảng tín dụng toàn cầu, số đông những CRO, chuyên gia về rủi ro và những nhà quản lý cao cấp thừa nhận rằng sự yếu kém trong quản trị rủi ro góp phần gây ra khủng hoảng tín dụng (Hình 2).

Thông tư 13/2018/TT-NHNN – Đâu là những nhữngh tân và tác động? - Ảnh 2.

Gần 10 năm sau dó, 1 tìm hiểu tương tự của KPMG có những ngân hàng có tầm quan trọng cấp hệ thống (SIBs) cũng chỉ ra rằng: những ngân hàng có trình độ phát triển cao không ngừng nghỉ có những phân tách chính thức về hiệu quả làm việc của Ủy ban Quản lý Rủi ro (“UBQLRR”), những báo cáo về văn hóa rủi ro đều được đệ trình lên UBQLRR; mối quan hệ giữa văn hóa rủi ro và chính sách bán hàng thu nhập thưởng đãi ngộ được gắn kết hợp lý; việc hợp tác và chia sẻ tài liệu giữa KTNB và QTRR diễn ra không ngừng nghỉ hơn (Hình 3).

Thông tư 13/2018/TT-NHNN – Đâu là những nhữngh tân và tác động? - Ảnh 3.

Hầu hết những vấn đề này đã được quy định trong Thông tư 13 có thông điệp chính là thúc đẩy 1 nền quản trị công ty lành mạnh, cắt giảm tối đa những xung đột lợi ích. Các ủy ban trực thuộc HĐQT và những hội đồng thuộc Ban điều hành cần được xác lập rõ công dụng, nhiệm vụ và những tuyến báo cáo.

Trong những năm tới đấy, để chắc chắn cung cấp đề nghị của Thông tư 13, khái niệm “hội đồng quản trị điều hành” có thể sẽ vẫn còn tồn tại nhưng mức độ ảnh hưởng sẽ giảm đi rất nhiều và dần nhường chỗ cho khuôn khổ quản trị theo chuẩn mực quốc tế. Mức độ trưởng thành của hệ thống quản trị cũng sẽ được nâng cao hơn. HĐQT tập trung thực hiện đúng vai trò quản trị và công dụng giám sát cần thiết của mình, trong khi Ban điều hành thực hiện công việc thường ngày dưới sự giám sát của HĐQT và những UB giúp việc.

Quản trị rủi ro (“QTRR”) không đội “2 mũ”, những nhân sự cao cấp không đồng thời thực hiện 2 công dụng “quản trị” và “điều hành” là những điều kiện, tiêu chuẩn được đưa vào văn bản này nhằm kích hoạt cơ chế kiểm tra và cân đối trong làm việc ngân hàng. Bên cạnh việc rà soát 2 UB và 3 HĐ được đề cập trong Thông tư, những ngân hàng đang cân nhắc tham khảo cơ cấu những hội đồng, ủy ban khác như hội đồng tín dụng, hội đồng xử lý nợ cũng như mối quan hệ và tuyến báo cáo của những bộ phận trong ngân hàng cung cấp những tiêu chuẩn của hệ thống kiểm soát nội bộ và mô hình ba vòng phòng vệ.

Quản lý thanh khoản, kế hoạch dự phòng thanh khoản, khuôn khổ QTRR làm việc và Kế hoạch kinh doanh liên tục sẽ đấyng vai trò quan trọng hơn

Thông tư 13 đề cập rất nhiều tiêu chuẩn quản lý những rủi ro chính mà ngân hàng đối mặt. Mặc dù quản lý rủi ro tín dụng vẫn là 1 cấu phần cơ bản và lớn nhất của những ngân hàng, những vấn đề liên quan đến quản lý rủi ro thanh khoản và rủi ro làm việc vẫn sẽ được chú trọng nhiều hơn trong tương lai. Những quan sát những ngân hàng Việt Nam của KPMG cũng cho thấy xu hướng đổi mới và nâng cấp hệ thống Quản lý Tài sản có, Tài sản Nợ (ALM) cũng như kiện toàn những công cụ quản trị rủi ro làm việc là những nội dung sẽ được đẩy mạnh trong những năm tới. Các ngân thường ngày càng nhận thức rõ ràng hơn về vai trò và giá trị đấyng góp từ việc kiểm soát rủi ro thanh khoản và việc thiết lập cơ chế chắc chắn ổn định trong trường hợp khủng hoảng.

Rủi ro làm việc, rủi ro mô hình và bảo mật dữ liệu, kế hoạch dự phòng chắc chắn kinh doanh liên tục sẽ trở thành những ưu tiên cao hơn trong kế hoạch làm việc của CRO, độc đáo khi áp dụng của công nghệ, tự động hóa và áp dụng những mô hình tính toán vào làm việc ngân thường ngày càng sâu rộng. Rất đáng mừng là những vấn đề bởi thế đã được đưa vào Thông tư 13.

Thay đổi mối quan hệ của 3C: Hát cộng 1 nhịp

Mối quan hệ giữa CEO (“Giám đốc điều hành” đồng thời là Tổng Giám đốc), CFO (“Giám đốc Tài chính”) và CRO (“Giám đốc Quản lý Rủi ro”) sẽ tiếp tục tiến triển theo hướng tích hợp và gắn kết. “Hát cộng 1 nhịp” là nói đến mối quan hệ tùy thuộc qua lại và biện pháp hợp tác khi thi công Khẩu vị rủi ro (“KVRR”), Kế hoạch vốn và kế hoạch kinh doanh của ngân hàng (Hình 4).

Thông tư 13/2018/TT-NHNN – Đâu là những nhữngh tân và tác động? - Ảnh 4.

Các nhữngh tân về quy định cơ cấu quản trị, mối quan hệ giữa UBQLRR và Hội đồng ALCO, Hội đồng quản lý vốn sẽ dẫn đến nhữngh tân quan hệ công việc giữa Tổng giám đốc, Giám đốc tài chính và Giám đốc QTRR.

Hoạt động thi công Khẩu vị rủi ro (“KVRR”) hàng năm cần được lồng ghép có làm việc lập kế hoạch kinh doanh, kế hoạch vốn chắc chắn cho 3 năm không ngừng nghỉ. Năng lực tiên đoán và và khả năng ứng phó trong những tình cảnh “What if” sẽ được chú trọng nhiều hơn nhằm chắc chắn “sức khỏe tài chính” của ngân hàng ngay cả trong những kịch bản xấu.

Vai trò của CRO không chỉ dừng ở những làm việc truyền thống về kiểm soát tuân thủ mà sẽ đấyng góp nhiều hơn vào những chọn lọc chiến lược của ngân hàng như sử dụng biện pháp đo lường lợi nhuận theo rủi ro (Risk Adjusted Return on Capital “RAROC” là 1 ví dụ) để phân tách, theo dõi hiệu quả kinh doanh và những chọn lọc kinh doanh thường ngày.

Trên thực tại, ngay cả khi không có Thông tư 13 thì ở những tổ chức có diện tích tương đối lớn, CRO và CFO bắt đầu cảm thấy những bất cập tồn tại xuất phát từ biện pháp quản trị đơn lẻ, thiếu gắn kết của hai công dụng quản trị tài chính và quản trị rủi ro. Sự rời rạc dẫn đến những lãng phí về đầu tư biện pháp, bất cập nguồn số liệu và hệ thống báo cáo….

KTNB nhữngh tân về chất và lượng

Mức độ trưởng thành của KTNB rõ ràng sẽ cần phải theo kịp mức độ trưởng thành của quản trị ngân hàng nhìn chung và quản trị rủi ro nói riêng. Mặc dù kiểm toán tuân thủ vẫn là 1 mục tiêu quan trọng, đề nghị kiểm toán theo định hướng rủi ro sẽ là động lực thúc đẩy những nhữngh tân về chất và lượng của làm việc KTNB.

Thay đổi trong biện pháp lập kế hoạch kiểm toán dựa trên những đánh giá, phân tách về rủi ro trọng yếu và những làm việc quan trọng của ngân hàng sẽ là những nội dung chúng ta chứng kiến trong tương lai.

Tóm lại, theo quan điểm người viết, nếu chỉ gắng sức tuân thủ Thông tư 13 bằng nhữngh “ticking the box” sẽ không đem lại nhiều giá trị mà bị coi là “kinh phí tuân thủ”. Sẽ cần thêm thời gian để những tiêu chuẩn trong Thông tư 13 được hoạt động, thẩm thấu vào trong những làm việc kinh doanh của ngân hàng. Chỉ khi đấy những nhữngh tân và tác động nêu trên sẽ thực sự đem lại hiệu quả và nâng cao hình ảnh, địa vị tranh đua của những ngân hàng trong tương lai.

Bạn đang xem chuyên mục tai chinh ngan hang của CTT.EDU.VN

COMMENTS

WORDPRESS: 0
DISQUS: 0