Thủ tướng: Kế thừa thành tựu hơn 30 năm đổi mới, thế và lực của ta lớn mạnh hơn nhiều

Quy mô nền kinh tế Việt Nam tăng mạnh, năm 2018 ước đạt trên 5,5 triệu tỷ đồng (khoảng 240,5 tỷ USD), gấp trên 1,3 lần năm 2015. GDP bình quân đầu ng

Đà Nẵng: Lần thứ 10 bảo lưu vị trí quán quân Vietnam ICT Index
Samsung phản hồi thông tin “có kế hoạch đưa thêm 200 nhà cung ứng nước ngoài vào Việt Nam”
Các nhà đầu tư đang chờ luật thông qua

Quy mô nền kinh tế Việt Nam tăng mạnh, năm 2018 ước đạt trên 5,5 triệu tỷ đồng (khoảng 240,5 tỷ USD), gấp trên 1,3 lần năm 2015. GDP bình quân đầu người ước đạt 2.540 USD, tăng 440 USD so có năm 2015.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã thay mặt Chính phủ trình bày báo cáo tình hình kinh tế – xã hội năm 2018 trước toàn thể Quốc hội sáng 22/10.

Về kinh tế, Thủ tướng nhấn mạnh, Chính phủ đã luôn kiên định mục tiêu đề ra từ đầu nhiệm kỳ là ưu tiên kiểm soát lạm phát, ổn định vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng gắn có cơ cấu lại nền kinh tế, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức tranh đua.

Một số kết quả vượt trội được Thủ tướng nêu ra như: GDP 9 tháng đạt 6,98%, ước cả năm vượt chỉ tiêu Quốc hội đề ra (6,7%). Trong đây, bình quân 3 năm 2016 – 2018 tăng 6,57% (chỉ tiêu kế hoạch 5 năm là 6,5 – 7%).

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân ước cả năm dưới 4%, là năm thứ 3 không ngừng nghỉ kiểm soát dưới 4%. Tín dụng 9 tháng tăng 10,41% (cùng kỳ tăng 12,21%), cả năm tăng dưới 17%, tập trung vào 1 vài lĩnh vực ưu tiên; kiểm soát nghiêm ngặt tín dụng nhà đất, chứng khoán.

Tỷ giá, phân khúc ngoại tệ được kiểm soát tốt. Dự trữ ngoại hối nhà nước đạt kỷ lục trên 60 tỷ USD. Thị trường chứng khoán tiếp tục phát triển, trở thành kênh huy động vốn quan trọng cho nền kinh tế. Việt Nam được đưa vào danh sách theo dõi nâng hạng lên phân khúc mới nổi…

Lượng vốn FDI thực hiện được ghi nhận đạt 18 tỷ USD, cao nhất từ trước đến nay. Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư tăng; chỉ số ICOR GĐ 2016 – 2018 ở mức 6,32, thấp hơn GĐ 2011 – 2015 (6,91)…

Nhiều mục tiêu khác như cơ cấu lại DNNN, thoái vốn, phân phối cổ phần cũng được Thủ tướng chỉ ra là có kết quả tích cực. 20 DNNN được phân phối cổ phần lần đầu đã thu về 20,3 nghìn tỷ đồng, thoái vốn thu về là 7,9 nghìn tỷ đồng, nâng tổng số luỹ kế từ đầu nhiệm kỳ lên trên 170 nghìn tỷ đồng…

Nền kinh tế theo Thủ tướng đã có sự chuyển dịch tích cực, trong đây, tỷ trọng nông nghiệp giảm, tỷ trọng công nghiệp dịch vụ tăng. Nông nghiệp có sự bình phục về chất lượng có sự tham dự của nhiều công ty lớn. Còn khu vực công nghiệp trở thành động lực chủ yếu của tăng trưởng.

Năng suất, chất lượng, hiệu quả sức tranh đua của nền kinh tế cũng được nâng lên. Đóng góp của năng suất 1 vài yếu tố tổng hợp (TFP) GĐ 2016 – 2018 ước đạt 42,18%, cao hơn GĐ 2011 – 2015 (33,58%) và vượt mục tiêu kế hoạch 5 năm 2016 – 2020 (30 – 35%). Năng suất lao động bình quân 3 năm 2016 – 2018 tăng 5,62%, cao hơn GĐ 2011 – 2015 (4,35%) và vượt mục tiêu kế hoạch 2016 – 2020 (5%).

Với các xu hướng tích cực này, Thủ tướng cho biết tăng trưởng GDP GĐ 2016 – 2020 có thể sẽ đạt mục tiêu Quốc hội đề ra là 6,5 – 7%, cao hơn bình quân GĐ 2011 – 2015 (5,91%).

Quy mô nền kinh tế tăng mạnh, năm 2018 ước đạt trên 5,5 triệu tỷ đồng (khoảng 240,5 tỷ USD), gấp trên 1,3 lần năm 2015. GDP bình quân đầu người ước đạt 2.540 USD, tăng 440 USD so có năm 2015.

“Nhiều tổ chức quốc tế phân tách Việt Nam có triển vọng tốt, là 1 trong các nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất khu vực và địa cầu”, Thủ tướng nói.

Nhiều áp lực lớn phải đối mặt

Tuy nhiên, Việt Nam cũng gặp nhiều hạn chế, gặp khó. Cụ thể, theo Người đứng đầu Chính phủ, áp lực lạm phát còn lớn do tác động của nhiều yếu tố, nhất là biến động tỷ giá, lãi suất, xu hướng tăng giá dầu thô trên phân khúc quốc tế và đề nghị thực hiện công đoạn giá phân khúc đối có điện, dịch vụ giáo dục, y tế…

Bên cạnh đây, tính tự chủ của nền kinh tế từng bước được nâng lên nhưng chưa cung cấp đề nghị; khả năng chống chịu trước các biến động ngoại khu còn hạn chế. Giải ngân vốn đầu tư công, cổ phần hóa DNNN, thoái vốn ở nhiều bộ ngành, địa phương chậm. Sản xuất kinh doanh nhiều lĩnh vực còn gặp khó.

Sự gắn kết có khu vực FDI và năng lực, hiệu quả làm việc của khu vực công ty trong nước, nhất là công ty nhỏ và vừa còn hạn chế. Một số công trình, dự án phát triển chậm độ, chất lượng kém. Còn các bất cập trong cơ chế, chính sách phân phối hàng; điều kiện kinh doanh, thủ tục hành chính trong 1 số lĩnh vực còn gây gặp khó cho người dân, công ty.

Mặt khác, tuy nhiều tổ chức quốc tế nâng hạng của Việt Nam trên nhiều lĩnh vực, nhất là môi trường kinh doanh, nhưng Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) xếp hạng năng lực tranh đua toàn cầu năm 2018 của Việt Nam giảm 3 bậc so có năm 2017 (77/140 so có 74/135 quốc gia, vùng lãnh thổ).

“Mặc dù sự tụt hạng có phần do 1 vàih tân căn bản trong biện pháp phân tách, nhưng qua đây cũng biểu hiện năng lực đổi mới sáng tạo, nghiên cứu kỹ phát triển của công ty, ứng dụng công nghệ cao, kỹ năng… còn thấp và chúng ta cần phải nỗ lực Bên cạnh đây để khắc phục” Thủ tướng nhấn mạnh.

Những yếu tố đầy bất ngờ khiến tăng trưởng đảo chiều

Bạn đang xem chuyên mục Kinh Te VI Mo Dau Tu ở CTT.EDU.VN

COMMENTS

WORDPRESS: 0
DISQUS: