Tiềm năng lớn nhưng liệu ngành logistics Việt có tận dụng được EVFTA?

Hiện nay, chi phí cho logistics ở Việt Nam chiếm tới 21-25% GDP hàng năm, 12% chi phí sản phẩm ngành thủy sản, 23% chi phí đồ gỗ, 29% chi phí rau quả

Vì sao khách du lịch Hàn Quốc đến Việt Nam tăng mạnh?
25 năm, Việt Nam tiếp nhận 80 tỷ USD vốn ODA
Công nghiệp 4.0 và chiến lược phát triển “đi tắt, đón đầu” của Việt Nam

Hiện nay, chi phí cho logistics ở Việt Nam chiếm tới 21-25% GDP hàng năm, 12% chi phí sản phẩm ngành thủy sản, 23% chi phí đồ gỗ, 29% chi phí rau quả, 30% chi phí gạo… Với mức này, chi phí logistics ở Việt Nam cao hơn Thái Lan 6%, Malaysia 12%, Singapore 300%.

Tiềm năng logistics Việt

Việt Nam đang đứng thứ 64/160 nước về mức độ phát triển logistics và đứng thứ 4 trong ASEAN sau Singapore, Malaysia, Thái Lan. Với tốc độ phát triển hàng năm đạt 16 đến 20%, đấy là 1 trong những ngành dịch vụ tăng trưởng đều nhất của Việt Nam trong thời gian qua.

Lưu lượng hàng hóa chuyển dịch qua những khu vực tăng trung bình 16-18%/năm, kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam tăng trung bình 16%/năm. Bên cạnh đây, Việt Nam tham dự vào 16 Hiệp định thương mại tự do, có hơn 60 đối tác thương mại, trong đây Trung Quốc, Nhật Bản, EU, Hoa Kỳ… có những cam đoan mở cửa phân khúc hàng hóa mạnh

Về diện tích tiêu dùng nội địa, phân khúc phân phối lẻ Việt Nam tăng trưởng trung bình 20-25%/năm, Bên cạnh đây lại có bờ biển dài dao động 3.260km trải dài từ Bắc đến Nam, ở trọng điểm khu vực châu Á – Thái Bình Dương và nằm trên tuyến hàng hải quốc tế. Điều kiện môi trường xung quanh và địa điểm địa lý là rất thuận lợi để phát triển dịch vụ vận tải và logistics.

Về cơ sở hạ tầng, các con phố bờ biển dài và mạng lưới các con phố bộ khắp cả nước phát triển; nhiều hệ thống những các con phố xa lộ và sân bay quốc tế đã có chủ trương thi công; hệ thống kho, cảng, bến bãi đang được đầu tư mạnh.

Chính phủ cũng xác định vận tải và logistics là đầu vào và kết nối có những ngành khác, chủ trương cải nhữngh thủ tục hành chính đối có vận hành xuất nhập khẩu, hải quan điện tử, tạo thuận lợi thương mại, rút ngắn thời gian và chi phí logistics.

Tuy nhiên, giai đoạn này, chi phí cho logistics ở Việt Nam chiếm tới 21-25% GDP hàng năm, 12% chi phí sản phẩm ngành thủy sản, 23% chi phí đồ gỗ, 29% chi phí rau quả, 30% chi phí gạo… Với mức này, chi phí logistics ở Việt Nam cao hơn Thái Lan 6%, Malaysia 12%, Singapore 300%.

Các lý do chính đẩy chi phí logistics ở Việt Nam cao gồm: Cơ sở hạ tầng cảng (đặc thù là cảng biển) chi phí cao, kết nối hạ tầng (bao gồm cả kết nối hạ tầng tài liệu) yếu, khả năng xếp dỡ và trung chuyển container hạn chế, kết nối phương tiện kém (do đa số hàng vận chuyển dạng rời) và mức độ container hóa thấp (do thiếu cơ sở hạ tầng và dịch vụ đâyng gói, xử lý container.

Bất cập đang và sẽ cản trở sự phát triển ngành logistics Việt Nam là rất đáng kể. Trước hết là cơ sở hạ tầng chưa đầy đủ và đã đi vào hoạt động. Mặc dù đang được đầu tư phát triển, hệ thống các con phố bộ Việt Nam còn nhiều tuyến xuống cấp và quá tải; các con phố sắt khổ ray cũ tăng chi phí chuyển tải. Hạ tầng cảng biển kém, phương tiện xếp dỡ thô sơ, kiến trúc cảng không phù hợp cho bốc dỡ hàng cho tàu chuyên dụng; không có dịch vụ hàng hải kết nối trực tiếp có những cảng biển ở châu Âu hay Mỹ.

Một hạn chế rất lớn nữa là Việt Nam vẫn còn tập quán xuất nhập khẩu hàng hóa cũ: Chủ hàng Việt Nam thường theo hình thức mua CIF, phân phối FOB, việc thuê phương tiện do đối tác nước ngoài đảm nhận, họ hầu như không chọn lọc đội tàu trong nước để vận tải.

EVFTA là thời cơ vàng

Theo báo cáo EVFTA và ngành logistics Việt Nam, tác động của EVFTA đối có triển vọng phát triển ngành logistics Việt Nam được thể hiện ở 2 góc độ: cam đoan mở cửa phân khúc của Việt Nam và EU trong lĩnh vực dịch vụ vận tải và phục vụ vận tải cam đoan trong những lĩnh vực ảnh hưởng tới phân khúc dịch vụ logistics.

Tiềm năng lớn nhưng liệu ngành logistics Việt có tận dụng được EVFTA? - Ảnh 1.

Với những cam đoan này, khi có hiệu lực, EVFTA có thể có lại những thời cơ lớn cho ngành logistics. Việt Nam sẽ có thời cơ tăng lên diện tích phân khúc, thời cơ lôi kéo đầu tư từ EU, tận dụng bí kíp, kỹ năng quản trị, nguồn vốn, mạng lưới sẵn có của đối tác khi liên doanh có đối tác EU. Cùng khi còn có thể giảm chi phí kinh doanh và tiếp cận phân khúc dịch vụ logistics những nước thành viên EU.

Do đây, để tận dụng những thời cơ kinh doanh từ EVFTA, những doanh nghiệp logistics Việt Nam cần có kế hoạch khắc phục những hạn chế giai đoạn này, qua đây nâng cao năng lực tranh đua của mình.

Cần phải cải thiện công nghệ tài liệu, tăng cường ứng dụng công nghệ tài liệu và kết nối tài liệu, đặc thù có mạng logistics toàn cầu, tăng cường công tác đào tạo, đào tạo lại nguồn nhân lực, bảo đảm năng lực chuyên môn.

Song song có đây là cải thiện diện tích vốn, năng lực quản lý và phạm vi vận hành kinh doanh, đặc thù thông qua việc tận dụng thời cơ liên doanh có những nhà đầu tư EU, cũng như tìm những kênh phù hợp để tăng liên kết có những doanh nghiệp cung cấp những dịch vụ logistics khác nhau (hãng tàu, đại lý thương mại, bảo hiểm…).

Nhìn vào bức tranh toàn cảnh 50 doanh nghiệp rời Trung Quốc, Việt Nam cũng tốt nhưng không là duy nhất

Bạn đang xem chuyên mục Kinh Te VI Mo Dau Tu ở CTT.EDU.VN

COMMENTS

WORDPRESS: 0
DISQUS: