Tình hình tài chính, ngân sách 2018 dưới góc nhìn chuyên gia phân tích

Nhân dịp đầu Xuân năm mới, chúng tôi xin trân trọng trình làng bài viết đánh giá về tình hình kinh tế, tài chính Việt Nam 2018 và nhận định 2019 của

Dự trữ ngoại hối lên đến 68 tỷ USD
Kiện toàn Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng và tội phạm ngân hàng
Dự trữ ngoại hối ước 70 tỷ USD, tiền bán vốn từ BIDV có thể giúp ổn định tỷ giá

Nhân dịp đầu Xuân năm mới, chúng tôi xin trân trọng trình làng bài viết đánh giá về tình hình kinh tế, tài chính Việt Nam 2018 và nhận định 2019 của PGS.TS. Tô Trung Thành đang công tác ở Trường Đại học Kinh tế Quốc dân.

CPI năm 2018 tăng 3,54% so có năm 2017, cao hơn nhiều so có mức 2,6% năm 2017, mặc dù đây năm thứ 5 không ngừng nghỉ lạm phát ổn định ở dưới 5%. Lạm phát căn bản thấp (1,48%) phản ánh áp lực lạm phát chủ yếu từ phía giá thành đẩy. Nguyên nhân chủ yếu là do giá thực phẩm và xăng dầu tăng (theo xu hướng chung của địa cầu cũng như tác động của một vài lần điều chỉnh giá xăng dầu trong nước). Sức ép tăng tỷ giá cũng có tác động đến lạm phát năm 2018. Với cấu trúc sản xuất GĐ này là thiếu công nghiệp phụ trợ phát triển, dựa đa số vào đầu vào và công nghệ từ ngoại khu, thì tác động của tăng tỷ giá làm tăng thêm tổng cầu có thể thấp hơn nhiều so có tác động làm giảm tổng cung do giá thành đầu vào tăng thêm, dẫn đến nguy cơ làm tăng lạm phát.

Tình hình tài chính, ngân sách 2018 dưới góc nhìn chuyên gia đánh giá - Ảnh 1.

Hình 1: Tăng trưởng tín dụng, tổng phương tiện chi trả và lạm phát – Nguồn: Tổng hợp từ số liệu của Tổng cục Thống kê và Ngân hàng Nhà nước

Tỷ giá năm 2018 có nhiều thời điểm biến động mạnh, bởi đối mặt cộng khi có 2 áp lực lớn. Thứ nhất là chiến tranh thương mại Mỹ – Trung và đồng Nhân dân tệ (NDT) giảm giá. Đồng NDT đã mất giá hơn 5% kể từ đầu năm 2018 và việc giảm giá Bên cạnh đây đồng NDT có thể tiếp tục là 1 phản ứng của Trung Quốc để chống đỡ tác động của chiến tranh thương mại. NDT giảm giá lại là 1 áp lực lớn đối có VND, hàng Trung Quốc giá rẻ hơn sẽ tranh đua trực tiếp có một vài hàng Việt Nam trên một vài phân khúc xuất khẩu lớn, trong khi nhập khẩu tăng thêm mạnh từ Trung Quốc trong bối cảnh Việt Nam đang có thâm hụt thương mại diện tích rất lớn từ Trung Quốc.

Thứ hai là FED liên tục tăng thêm lãi suất (xuất phát từ kinh tế Mỹ mạnh hơn và mật độ thất nghiệp giảm). Lãi suất USD tăng lên đặt trong chu kỳ dài hạn sẽ khiến một vài dòng vốn rút khỏi nhiều nơi. Cho dù Mỹ tăng lãi suất, đa số một vài nước đang phát triển và mới nổi lại muốn duy trì chính sách phân phối hàng nới lỏng để giữ đồng nội tệ yếu, khuyến khích xuất khẩu và tăng trưởng trong bối cảnh không có nhiều công cụ để ứng phó có một vài bất lợi từ địa cầu như GĐ này. Với 1 nền kinh tế có độ mở lớn cộng 1 cơ chế điều hành tỷ giá như GĐ này, giá trị VND sẽ tăng thêm so có vô số một vài nước bạn hàng chủ chốt của Việt Nam như EU, Nhật, Hàn Quốc, Trung Quốc, một vài nước ASEAN…, ảnh hưởng đến xuất khẩu và cán cân thương mại, theo đây gây một vài căng thẳng cho phân khúc ngoại hối.

Tình hình tài chính, ngân sách 2018 dưới góc nhìn chuyên gia đánh giá - Ảnh 2.

Hình 2. Biến động tỷ giá chính thức và tự do – Nguồn: Tổng hợp từ số liệu NHNN và tự tổng hợp

Với một vài áp lực lớn trên, tỷ giá VND/USD đã có xu hướng tăng thêm, tỷ giá Ngân hàng thương mại cũng như tỷ giá tự do tăng cao sát biên trên, đặc thù là ở nửa cuối năm 2018. Cho đến cuối năm 2018, trong khi tỷ giá trọng điểm tăng dao động gần 2% thì tỷ giá Ngân hàng thương mại đã tăng gần 3% so có đầu năm. Ngân hàng nhà nước đã tích cực can thiệp vào phân khúc ngoại hối để giữ ổn định tỷ giá. Với diện tích dự trữ ngoại hối cao như GĐ này thì khả năng giữ ổn định tỷ giá ở mức độ hợp lý là có thể thực hiện được trong ngắn hạn.

Chính sách tiền tệ năm 2018 thắt chặt hơn so có năm 2017 (cung tiền tăng 11,34% so có 14,19% năm 2017; tín dụng tăng 13,3% so có 16,96% năm 2017). Lãi suất của nền kinh tế cũng ở tình thế khó giảm sâu Bên cạnh đây. Trong suốt năm 2018, một vài mức lãi suất huy động và lãi suất liên ngân hàng thậm chí đã tăng cao hơn so có năm 2017.

Tình hình tài chính, ngân sách 2018 dưới góc nhìn chuyên gia đánh giá - Ảnh 3.

Hình 3. Lãi suất chính sách phân phối hàng và lãi suất liên ngân hàng – Nguồn: số liệu theo NHNN

Sức ép tăng thêm tỷ giá khiến Ngân hàng nhà nước chẳng thể giảm Bên cạnh đây mức lãi suất để giữ giá trị tiền đồng, chắc chắn chênh lệch lãi suất VND – USD đủ quyến rũ để tránh hiện trạng đầu cơ ngoại tệ. Lạm phát tăng thêm cũng khiến lãi suất danh nghĩa có xu hướng tăng thêm. Ngoài ra, một vài chính sách phân phối hàng chắc chắn an ninh và lành mạnh hệ thống cũng gián tiếp tác động khiến lãi suất tăng (ví dụ chính sách phân phối hàng giảm mật độ vốn ngắn hạn được phép sử dụng để cho vay dài hạn giảm xuống 40% kể từ 1/1/2019 khiến cho nhu cầu huy động vốn dài hạn của một vài ngân hàng tăng thêm; một vài Ngân hàng thương mại dự tính tăng vốn cấp 2 theo Basel II).

Việc FED tăng lãi suất cũng gây áp lực đến lãi suất trong nước nếu không muốn một vài dòng vốn chảy ra khỏi nền kinh tế. Với mục tiêu điều hành chính sách phân phối hàng là kiểm soát lạm phát và giữ ổn định tỷ giá, lãi suất sẽ bị tác động mạnh và khó có thể giảm xuống để hỗ trợ được tăng trưởng.

Ngoài ra, đến cuối năm 2018, tỷ trọng M2/GDP lên đến 168% và tín dụng/GDP dao động 134% (Uỷ ban Giám sát Tài chính quốc gia, 2018), là mức cao nhất so có một vài nước trong khu vực, do tốc độ tăng cung tiền và tín dụng cao hơn từ hai đến ba lần so có tốc độ tăng trưởng trong nhiều năm qua, gây áp lực rủi ro ổn định tài chính, đặc thù là khi vấn đề nợ xấu vẫn chưa được giải quyết triệt để. Bên cạnh đây, dư địa chính sách phân phối hàng tiền tệ cũng bị thu hẹp đáng kể.

Về tình hình ngân sách, theo Uỷ ban Giám sát Tài chính quốc gia (2018), trong năm 2018, thu ngân sách ước tăng 5,5% so có năm 2017, đạt 103% dự toán cả năm. Chi ngân sách tăng 6,9%, đạt 102,6% dự toán cả năm. Cơ cấu thu ngân sách cho thấy, thu từ dầu thô, thu từ làm việc xuất nhập khẩu có xu hướng giảm. Thu từ nội địa (trừ tiền đất) chiếm tỷ trọng càng ngày càng lớn, chiếm dao động 2/3 tổng thu ngân sách, nhưng gặp nhiều thách thức do nền kinh tế còn yếu. Trong khi đây, cơ cấu chi ngân sách cho thấy chi đầu tư phát triển đang có xu hướng giảm dần hoặc đi ngang, trong khi tốc độ tăng chi không ngừng nghỉ và tỷ trọng chi không ngừng nghỉ tăng thêm mau chóng (dao động 70% tổng chi ngân sách).

Chi ngân sách tăng thêm nhanh trong khi thu ngân sách gặp khó nên thâm hụt Ngân sách nhà nước của Việt Nam ở mức cao trong nhiều năm qua, và đứng ở mức cao nhất so có một vài nước trong khu vực. Thâm hụt ngân sách của Việt Nam từ 2012 đến 2016 dao động ở mức 6 – 8% GDP. Năm 2017, thâm hụt ngân sách ở mức 3,48% GDP – do bắt đầu không tính chi trả nợ gốc theo quy định của Luật Ngân sách có hiệu lực từ 2017 và kinh tế bình phục tốt. Tuy nhiên, mặc dù kinh tế tăng trưởng tốt hơn, phân phối vốn công ty nhà nước và phân phối một vài tài sản nhà nước tăng thêm, nhưng mật độ thâm hụt ngân sách năm 2018 ở mức 3,67% GDP, tăng hơn so có năm 2017, mặc dù vẫn nằm trong ngưỡng Quốc hội phê duyệt (3,7%). Điều này phản ánh chi tiêu và kỷ luật tài khóa không được cải thiện.

Tình hình tài chính, ngân sách 2018 dưới góc nhìn chuyên gia đánh giá - Ảnh 4.

Hình 4. Thâm hụt ngân sách Việt Nam (Ghi chú: Từ năm 2017, con số thống kê thâm hụt ngân sách không bao gồm chi trả nợ gốc) – Nguồn: Tổng hợp từ số liệu của Bộ Tài chính và Tổng cục Thống kê

Thâm hụt ngân sách cao qua một vài năm đã khiến nợ công GĐ này tăng lên mau chóng, và so có nhiều nước đang phát triển thì mật độ nợ công của Việt Nam thuộc nhóm cao. Nợ công vẫn có xu hướng tăng từ năm 2012 đến 2017, từ 1.647 nghìn tỷ đồng vào năm 2012 đã tăng lên gần gấp đôi vào năm 2017 có 3.073 nghìn tỷ. Tỷ lệ nợ công trên GDP đạt 50,8% năm 2012 và tăng lên 61,37% năm 2017 và ước đạt 61,4% GDP năm 2018. Mặc dù mật độ này vẫn nằm trong mức trần nợ công 65% mà Quốc hội cho phép, nhưng diện tích nợ tăng thêm đang khiến mức chi trả nợ lãi vay càng ngày càng cao, theo đây, mật độ ngân sách còn lại đầu tư cho phát triển suy giảm. Nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ/tổng thu Ngân sách nhà nước cũng đã tiệm cận đến ngưỡng rủi ro 25% (bao gồm cả trả trong cân đối và đảo nợ).

2012

2013

2014

2015

2016

2017

Dư nợ công (nghìn tỷ đồng)

1.647,1

1.952,6

2.284,8

2.556,0

2.863,9

3.073,5

GDP (nghìn tỷ đồng)

3.245,4

3.584,3

3.937,9

4.192,9

4.502,7

5.007,8

Nợ công/GDP (%)

50,8

54,5

58,0

61,0

63,6

61,4

Bảng 3. Quy mô nợ công 2012 – 2017- Nguồn: Tổng hợp từ số liệu của Bộ Tài chính

Tỷ lệ nợ nước ngoài của quốc gia so có GDP đang có xu hướng tăng nhanh trong GĐ 2012 – 2017. Năm 2017, mật độ này là 48,9%, ước tính năm 2018 là 49,7% GDP. Tỷ lệ này vẫn nằm trong ngưỡng Quốc hội cho phép, nhưng có xu hướng GĐ này thì khả năng mật độ này vượt ngưỡng 50% là rất cao. Nguyên nhân chủ yếu là do diện tích vay nợ nước ngoài của một vài công ty theo hình thức tự vay tự trả tăng nhanh. Đây là 1 dấu hiệu đề nghị Chính phủ cần có một vài một vàih thức quản lý nợ nước ngoài quốc gia nghiêm ngặt hơn.

Tình hình tài chính, ngân sách 2018 dưới góc nhìn chuyên gia đánh giá - Ảnh 5.

Hình 5. Tỷ lệ nợ nước ngoài của quốc gia/GDP (%)

[Infographic] Ngành tài chính và một vài con số vượt bậc năm 2018

Bạn đang xem chuyên mục tai chinh ngan hang của CTT.EDU.VN

COMMENTS

WORDPRESS: 0
DISQUS: 0