Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư bế mạc Hội nghị Trung ương 8

Cổng Thông tin điện tử Chính phủ trân trọng trình làng toàn văn phát biểu bế mạc Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII của đồng

Chính sách bảo hộ ngành công nghiệp sản xuất thép trong EU: Lá mặt, lá trái
Đại biểu Quốc hội: Khi cần báo cáo để thăng chức, tăng quỹ lương, xin vốn thì doanh nghiệp Nhà nước báo cáo lãi
Quốc hội: Không dùng ngân sách xử lý thua lỗ của doanh nghiệp

Cổng Thông tin điện tử Chính phủ trân trọng trình làng toàn văn phát biểu bế mạc Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Thưa 1 vài đồng chí Trung ương,

Thưa 1 vài đồng chí tham dự Hội nghị,

Sau 5 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc, dân chủ và trách nhiệm, Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương đã đã đi vào làm việc trọn vẹn nội dung chương trình đề ra. Các đồng chí Uỷ viên Trung ương và 1 vài đồng chí tham dự Hội nghị đã nghiêm túc nghiên cứu kỹ và dự trù, sôi nổi trao đổi, đâyng góp nhiều ý kiến quan trọng vào 1 vài báo cáo, đề án. Bộ Chính trị đã tiếp thu tối đa và giải trình các vấn đề còn có ý kiến khác nhau. Ban Chấp hành Trung ương đã thống nhất cao thông qua 1 vài nghị quyết, kết luận và quy định của Trung ương. Để kết thúc Hội nghị, tôi xin thay mặt Bộ Chính trị phát biểu, làm rõ thêm 1 số vấn đề và khái quát lại các kết quả chủ yếu của Hội nghị.

1. Về kinh tế – xã hội

Ban Chấp hành Trung ương nhất trí cho rằng, trong 9 tháng đầu năm 2018, nhờ có sự nỗ lực phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, kinh tế – xã hội nước ta tiếp tục có các chuyển biến tích cực, toàn diện trên 1 vài lĩnh vực. Dự báo, đến cuối năm 2018, có thể đã đi vào làm việc trọn vẹn 12 chỉ tiêu kế hoạch đề ra, trong đây có 8 chỉ tiêu đã đi vào làm việc vượt mức. Nổi bật là: Tốc độ tăng trưởng tiếp tục duy trì ở mức cao, đạt 6,6 – 6,8%, diện tích GDP dao động 240,5 tỉ đô la Mỹ. Chất lượng tăng trưởng càng ngày càng được cải thiện. Kinh tế vĩ mô tiếp tục ổn định. Lạm phát được kiểm soát; chỉ số giá tiêu dùng duy trì ở mức dưới 4%. Các cân đối lớn của nền kinh tế căn bản được bảo đảm; kỷ luật, kỷ cương tài chính – ngân sách nhà nước được tăng cường; bội chi ngân sách ở mức 3,67% GDP; nợ công có xu hướng giảm và càng ngày càng thấp xa hơn mức trần do Quốc hội quy định. Thị trường tiền tệ ổn định; cán cân chi trả quốc tế tiếp tục được cải thiện. Xuất khẩu ước đạt 238 tỉ đô la, tăng 11,2% so có năm 2017; xuất siêu hơn 3 tỉ đô la Mỹ.

Các lĩnh vực văn hoá, xã hội được quan tâm đầu tư phát triển, đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần tích cực vào việc duy trì ổn định chính trị, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, nâng cao cuộc sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội ở cả thành thị và nông thôn được cải thiện rõ rệt. Phong trào thi công nông thôn mới đạt được nhiều kết quả tích cực, đã có gần 40% số xã của cả nước đạt chuẩn nông thôn mới. Các chính sách bán hàng, chế độ đối có người có công, 1 vài đối tượng chính sách bán hàng, bảo trợ xã hội được quan tâm thực hiện; tỉ lệ hộ nghèo theo chuẩn mới giảm xuống còn 5,2 – 5,7%. Công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm tiếp tục được đẩy mạnh, năng suất lao động được cải thiện; tỉ lệ thất nghiệp khu vực thành thị giảm; cơ cấu lao động chuyển dịch theo hướng tích cực. Sự nghiệp y tế, gym, thể thao, bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội; đổi mới giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thi công con người; quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, phòng, chống thiên tai, ứng phó có biến đổi khí hậu; phát triển khoa học và công nghệ, phong trào khởi nghiệp, đổi mới, sáng tạo đạt được nhiều kết quả tích cực. Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực tiếp tục được đẩy mạnh, đạt được nhiều kết quả cụ thể rõ rệt, được cán bộ, đảng viên và nhân dân hoan nghênh, đồng tình, phân tách cao. Tiềm lực quốc phòng, an ninh được tăng cường; an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội được giữ vững; môi trường hoà bình, ổn định cho phát triển được bảo đảm. Hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế được đẩy mạnh và mở rộng, góp phần nâng cao danh tiếng và địa vị của nước ta trên trường quốc tế.

Trung ương khẳng định, các kết quả, thành tích đạt được trong năm 2018 đã góp phần thực hiện tốt 1 vài nhiệm vụ và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội trong nửa đầu nhiệm kỳ khoá XII, tạo đà và động lực mới, khí thế mới cho việc đã đi vào làm việc 1 vài mục tiêu, nhiệm vụ đề ra cho năm 2019 và 5 năm 2016 – 2020.

Tuy nhiên, Trung ương cũng chỉ rõ, bên cạnh các kết quả, thành tích đã đạt được, kinh tế – xã hội của đất nước vẫn đứng trước nhiều gặp khó, thách thức, còn tiềm ẩn 1 số nhân tố có thể tác động tiêu cực đến ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, an ninh, trật tự xã hội. Tình hình trong nước, quốc tế còn tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường. Từ nay đến cuối năm và trong các năm tới, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta cần phải tiếp tục nỗ lực phấn đấu để đã đi vào làm việc thắng lợi 1 vài mục tiêu nhiệm vụ đề ra cho cả năm 2018. Trong năm 2019, tiếp tục củng cố nền móng kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, nâng cao năng lực ứng phó có các biến động bất thường của phân khúc, nhất là phân khúc địa cầu. Duy trì đà tăng trưởng trên cơ sở cải thiện thực chất Bên cạnh đây môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức tranh đua của nền kinh tế gắn có đẩy mạnh thực hiện ba đột phá chiến lược, cơ cấu lại nền kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng. Đẩy mạnh cải 1 vàih hành chính, cải 1 vàih tư pháp, tinh giản bộ máy tổ chức, biên chế, bảo đảm làm việc hiệu lực, hiệu quả. Chú trọng phát triển văn hoá, xã hội, bảo vệ môi trường; bảo đảm an sinh, nâng cao phúc lợi xã hội, cải thiện cuộc sống nhân dân. Củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia, ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, mở rộng và nâng cao hiệu quả làm việc đối ngoại, nâng cao địa vị và danh tiếng của Việt Nam trong khu vực và trên địa cầu.

Để có thể đã đi vào làm việc thắng lợi 1 vài mục tiêu, nhiệm vụ chủ yếu đã đề ra, cần tiếp tục phát huy các kết quả, thành tích và bí kíp, bài học đúc rút được từ thực ở đổi mới, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, nâng cao hiệu lực, hiệu quả làm việc của toàn hệ thống chính trị; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, tinh thần năng động, sáng tạo, quyết liệt trong lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện của toàn bộ 1 vài cấp, 1 vài ngành từ Trung ương đến địa phương, cùng đồng 1 vài công ty và 1 vài tầng lớp nhân dân.

2. Về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển

Ban Chấp hành Trung ương đã thống nhất cao có các nhận định, phân tách về kết quả của việc thực hiện Nghị quyết số 09, đồng thời nhất trí ban hành Nghị quyết mới về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 để từng bước đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu lên từ biển, dựa vào biển và hướng ra biển. Phấn đấu đến năm 2030 đạt 1 vài mục tiêu căn bản về phát triển bền vững kinh tế, xã hội và môi trường biển, vùng ven biển và hải đảo. Tăng trưởng kinh tế biển và lương bình quân đầu người của 1 vài tỉnh, thành thị ven biển càng ngày càng cao so có mức tăng trưởng chung của cả nước; đâyng góp của 1 vài ngành kinh tế thuần biển chiếm dao động 10% GDP cả nước; đâyng góp GRDP của 1 vài tỉnh, thành thị ven biển chiếm 65 – 70% GDP cả nước. Chỉ số phát triển con người (HDI) 1 vài tỉnh, thành thị ven biển cao hơn mức trung bình của cả nước; cung cấp được 1 vài đề nghị thiết yếu của người dân sống trên 1 vài đảo… Kiểm soát nghiêm ngặt, ngăn ngừa, cắt giảm ô nhiễm môi trường biển, nhất là chất thải nhựa đại dương. Ở 1 vài tỉnh, thành thị ven biển, chất thải nguy hại, chất thải rắn sinh hoạt được thu gom và xử lý đạt quy chuẩn môi trường; 1 vài khu kinh tế, khu công nghiệp và khu thành thị ven biển có hệ thống xử lý nước thải tập trung, bảo đảm cung cấp 1 vài quy chuẩn, nguyên tắc về môi trường và được quy hoạch, thi công theo hướng bền vững, thích ứng có biến đổi khí hậu, nước biển dâng.

Chú ý kết hợp nghiêm ngặt giữa phát triển bền vững kinh tế biển có thi công xã hội gắn kết hài hoà có biển; bảo tồn, phát triển bền vững phong phú sinh học, hệ sinh thái biển, bảo vệ môi trường, phòng, chống thiên tai, ứng phó có biến đổi khí hậu, nước biển dâng thích hợp có quy luật môi trường xung quanh; mở rộng và nâng cao hiệu quả làm việc đối ngoại và hợp tác quốc tế về biển. Bảo đảm cân bằng sinh thái và hài hoà 1 vài mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển, liên kết và hỗ trợ giữa 1 vài vùng nội địa đất liền, vùng ven biển và hải đảo, đại dương. Kiên quyết, kiên nhẫn đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích quốc gia – dân tộc trên 1 vài vùng biển, đảo thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia, giải quyết 1 vài tranh chấp bằng 1 vàih thức hoà bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, trong đây có Công ước Luật Biển năm 1982 của Liên hợp quốc; giữ vững môi trường hoà bình, ổn định, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội trên 1 vài vùng biển, đảo để phát triển bền vững kinh tế. Trong bối cảnh cả địa cầu đang thực hiện cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4, cần quan tâm chuyển từ kinh tế biển chủ yếu dựa vào vốn đầu tư, khai thác tài nguyên, gây ô nhiễm môi trường sang kinh tế dựa trên nền móng tri thức, khoa học công nghệ, phát huy có hiệu quả tiềm năng, lợi thế của biển Việt Nam. Cơ cấu lại, phát triển đồng bộ và bền vững 1 vài ngành, lĩnh vực kinh tế biển, 1 vài vùng biển, ven biển và hải đảo theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức tranh đua. Chú trọng phát triển 1 vài trọng điểm kinh tế ven biển, đầu tư có trọng tâm, trọng tâm; phát huy lợi thế về điều kiện địa chiến lược, kinh tế, chính trị và môi trường xung quanh. Khai thác, sử dụng và phát triển bền vững tài nguyên biển, làm động lực cho phát triển kinh tế đất nước. Chủ động thích ứng có biến đổi khu vực và toàn cầu, trong đây có biến đổi khí hậu, nước biển dâng; tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường dựa trên cơ sở quy hoạch, kế hoạch cụ thể, sát hợp có thực ở. Hết sức coi trọng công tác điều tra căn bản, thực hiện phương châm nắm chắc, quản chặt, khai thác, sử dụng có hiệu quả tài nguyên biển, bảo tồn phong phú sinh học biển. Huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực nhà nước và xã hội, trong nước và nước ngoài để thực hiện 1 vài mục tiêu, định hướng chiến lược về phát triển bền vững kinh tế biển. Chú trọng đào tạo nguồn nhân lực, phát triển khoa học – công nghệ, lấy khoa học – công nghệ hiện đại và nguồn nhân lực chất lượng cao làm khâu đột phá để phát triển kinh tế biển. Đồng thời khẩn trương đã đi vào làm việc thể chế, chính sách bán hàng tạo môi trường và điều kiện thuận lợi lôi kéo 1 vài nhà đầu tư có công nghệ, trình độ quản lý hiện đại, tân tiến phát triển kết cấu hạ tầng và kinh tế biển.

Trong quá trình triển khai thực hiện Nghị quyết, cần cực kỳ chú trọng công tác giáo dục, tuyên truyền, quán triệt, nâng cao nhận thức, thống nhất tư tưởng trong toàn Đảng, toàn dân. Đồng thời, tiếp tục thi công, đã đi vào làm việc 1 vài thể chế, chính sách bán hàng, bổ sung, điều chỉnh 1 vài quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án đầu tư sát hợp có thực ở để thực hiện có hiệu quả. Chú trọng 1 vài lĩnh vực theo thứ tự ưu tiên: Phát triển du lịch biển, đảo; kinh tế hàng hải; khai thác dầu khí và 1 vài tài nguyên khoáng sản khác; nuôi trồng, khai thác thuỷ hải sản và phát triển hạ tầng nghề cá; phát triển công nghiệp đâyng tàu; phát triển năng lượng tái tạo và 1 vài ngành kinh tế mới. Tập trung đầu tư có hiệu quả1 vài khu kinh tế, khu công nghiệp, thành thị ven biển và hệ thống kết cấu hạ tầng kết nối vùng đồng bộ làm nền móng đột phá để phát triển vùng biển, ven biển trở thành điểm đến của địa cầu đồng thời là cửa ngõ vươn ra địa cầu.

3. Về công tác thi công Đảng

Tại Hội nghị lần này, sau khi tham khảo 1 vài Tờ trình của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương đã chọn lọc 1 số vấn đề quan trọng sau đây:

Một là, thống nhất cao việc ban hành Quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Uỷ viên Bộ Chính trị, Uỷ viên Ban Bí thư, Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Trung ương cho rằng, trong các năm qua, nhờ có các chủ trương, quy định đúng đắn, kịp thời của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về trách nhiệm nêu gương bởi thế ý thức trách nhiệm của cán bộ, đảng viên từng bước được nâng lên, từ đây có các hành động thiết thực trong công tác và cuộc sống, tạo được sự chuyển biến tích cực về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tác phong làm việc; ý thức tổ chức kỷ luật và đoàn kết nội bộ. Việc thực hiện 1 vài chủ trương, quy định về nêu gương của Đảng đã góp phần tăng cường kỷ luật, kỷ cương của Đảng; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng, đảng viên; góp phần ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái, tham nhũng, tiêu cực, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối có sự lãnh đạo của Đảng. Nhiều đồng chí đã có ý thức rèn luyện, giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống, hết lòng, cực kỳ tận tuỵ có công việc, được quần chúng yêu mến, tín nhiệm.

Tuy nhiên, các kết quả thu được còn hạn chế, chưa đạt được đề nghị đề ra. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức quán triệt, triển khai thực hiện vẫn còn bất cập, hiệu quả chưa cao, chưa tạo được sức lan toả lớn. Một số cán bộ, đảng viên, trong đây có cả cán bộ lãnh đạo chủ chốt 1 vài cấp chưa xác định rõ trách nhiệm và chưa thật sự gương mẫu trong việc rèn luyện, giữ gìn phẩm chất, đạo đức, lối sống…, gây dư luận xấu trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Ban Chấp hành Trung ương căn bản thống nhất có 1 vài nội dung trong dự thảo Quy định, cho rằng dự thảo đã được dự trù công phu, vừa có tính khái quát, vừa cụ thể, có trọng tâm, trọng tâm, có tính khả thi; giao cho Bộ Chính trị tiếp tục tiếp thu 1 vài ý kiến đâyng góp bằng văn bản của Trung ương để đã đi vào làm việc và sớm ban hành Quy định. Trung ương nhấn mạnh, nếu gần 200 Uỷ viên Trung ương khoá XII, từng đồng chí thật sự soi vào chính mình mình, đề cao trách nhiệm nêu gương và gương mẫu đi đầu thực hiện thì sẽ có sức lan toả rất lớn, sẽ tạo được sự chuyển biến mạnh mẽ trong toàn Đảng, toàn hệ thống chính trị, góp phần củng cố, tăng cường niềm tin của cán bộ, đảng viên, nhân dân vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị và Ban Bí thư. Bác Hồ đã dạy: “Một tấm gương sống có giá trị hơn cả trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Tuy nhiên, 1 vàih viết phải rất trong sáng, nghiêm ngặt, dễ hiểu, dễ thực hiện, dễ kiểm tra, giám sát, không để cho 1 vài thế lực xấu, thù địch lợi dụng xuyên tạc, kích động chống phá chúng ta.

Hai là, thống nhất chọn lọc thành lập 5 tiểu ban dự trù Đại hội XIII của Đảng gồm: Tiểu ban Văn kiện; Tiểu ban Kinh tế – Xã hội; Tiểu ban Điều lệ Đảng; Tiểu ban Nhân sự và Tiểu ban Tổ chức phục vụ Đại hội. Khi tham khảo, chọn lọc thành lập 1 vài Tiểu ban, Trung ương đã trao đổi và thống nhất cao có Tờ trình của Bộ Chính trị, đồng thời đề nghị 1 vài Tiểu ban cần khẩn trương thi công chương trình, kế hoạch để sớm đi vào làm việc. Đặc biệt là Tiểu ban Văn kiện và Tiểu ban Kinh tế – Xã hội cần tăng cường phối hợp có 1 vài cơ quan nghiên cứu kỹ, tham mưu của Đảng và Nhà nước, chắt lọc, kế thừa 1 vài kết quả nghiên cứu kỹ trong các năm gần đây và căn cứ vào tình hình thực ở của đất nước để đề xuất có Ban Chấp hành Trung ương, có Đại hội XIII của Đảng các chủ trương, chính sách bán hàng tiếp tục đẩy mạnh đổi mới mạnh mẽ, sâu sắc và đồng bộ hơn, tạo xung lực mới cho phát triển đất nước nhanh và bền vững, thi công Đảng trong sạch, vững mạnh.

Ba là, Ban Chấp hành Trung ương đã tham khảo và chọn lọc trình làng đồng chí Tổng Bí thư để Quốc hội bầu làm Chủ tịch nước khoá XIV; bầu bổ sung 2 đồng chí Uỷ viên Uỷ ban Kiểm tra Trung ương khoá XII. Ban Chấp hành Trung ương cũng đã tham khảo, thi hành kỷ luật đồng chí Nguyễn Bắc Son, nguyên Uỷ viên Trung ương Đảng, nguyên Bí thư Ban cán sự đảng, nguyên Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông bằng hình thức 1 vàih chức Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương khoá XI và Bí thư Ban cán sự đảng Bộ Thông tin và Truyền thông nhiệm kỳ 2011 – 2016; kỷ luật đồng chí Trần Văn Minh, nguyên Uỷ viên Trung ương Đảng, nguyên Phó Trưởng Ban Tổ chức Trung ương, nguyên Phó Bí thư Thành uỷ, nguyên Bí thư Ban cán sự đảng, nguyên Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thành thị Đà Nẵng bằng hình thức khai trừ ra khỏi đảng (Theo Quy định số 30, ngày 26/7/2016 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư sẽ tiếp tục chỉ đạo thực hiện quy trình xử lý kỷ luật về hành chính đối có đồng chí Nguyễn Bắc Son và đồng chí Trần Văn Minh bảo đảm đồng bộ, kịp thời, tương ứng có kỷ luật đảng). Việc tham khảo, chọn lọc về công tác cán bộ và thi hành kỷ luật đã được áp dụng rất nghiêm ngặt, dân chủ, đúng quy định của Đảng có sự thống nhất rất cao của Ban Chấp hành Trung ương.

Thưa 1 vài đồng chí,

Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII đã thành công tốt đẹp. Trong năm 2018 và nửa đầu nhiệm kỳ khoá XII, sự nghiệp phát triển đất nước đã có các chuyển biến tích cực, toàn diện trên 1 vài lĩnh vực, năm sau tốt hơn năm trước. Tuy nhiên, chúng ta tuyệt nhiên không được chủ quan, thoả mãn, bởi vì trước mắt chúng ta vẫn đang có rất nhiều gặp khó, thách thức, vẫn còn nhiều việc lớn, việc khó phải làm và phải làm tốt Bên cạnh đây mới có thể thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XII của Đảng.

Tôi đề nghị từng đồng chí Trung ương, trên cương vị công tác của mình, ngay sau Hội nghị này, phải tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện quyết liệt và có hiệu quả 1 vài nghị quyết, kết luận, quy định của Hội nghị, góp phần đã đi vào làm việc tốt mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội quý IV, cả năm 2018 và 1 vài năm thứ hai.

Với tinh thần đây, tôi xin tuyên bố bế mạc Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII. Chúc 1 vài đồng chí mạnh khoẻ, đã đi vào làm việc tốt trọng trách của mình trước Đảng, nhân dân và đất nước.

Xin trân trọng cảm ơn./.

Trung ương trao đổi về trách nhiệm nêu gương của cán bộ cao cấp

Bạn đang xem chuyên mục Kinh Te VI Mo Dau Tu ở CTT.EDU.VN

COMMENTS

WORDPRESS: 0
DISQUS: