TS. Tô Trung Thành: Một số loại thuế có tỷ trọng trong tổng thu NSNN thấp hơn mức trung bình, nhưng tăng thuế ở thời điểm này có thể tác dụng ngược!

Theo TS. Tô Trung Thành, dự tính tăng thuế VAT và tiêu thụ độc đáo ở 1 số ngành trong thời điểm GĐ này có thể chưa phải là biện pháp tốt nhất, không

“Vùng kháng cự” trước các cú sốc tài khóa
Lãi suất có xu hướng xoa dịu tỷ giá USD/VND
Nâng cao dịch vụ ngân hàng: Cuộc chiến giữa con người và máy móc?

Theo TS. Tô Trung Thành, dự tính tăng thuế VAT và tiêu thụ độc đáo ở 1 số ngành trong thời điểm GĐ này có thể chưa phải là biện pháp tốt nhất, không các có thể làm giảm thuế gián thu mà còn chưa có tác động hỗ trợ tăng GDP và tổng giá trị tăng thêm theo giá căn bản của nền kinh tế.

Trường Đại học Kinh tế Quốc dân dự tính mở phân phối ấn phẩm Đánh giá Kinh tế Việt Nam 2018: Hướng tới chính sách phân phối hàng tài khóa bền vững và hỗ trợ tăng trưởng do TS. Trần Thọ Đạt – Hiệu trưởng nhà trường, và TS. Tô Trung Thành, Trưởng phòng Nghiên cứu khoa học là đồng chủ biên. Nội dung trọng tâm của ấn phẩm là phân tách nền kinh tế, hướng tới chính sách phân phối hàng tài khóa bền vững và hỗ trợ tăng trưởng. Xoay quanh sự kiện này, PGS. TS. Tô Trung Thành đã chia sẻ về một vài kết quả quan trọng của tìm hiểu.

Thưa ông, ngân sách Nhà nước (NSNN) là vấn đề được chú trọng, vậy nhóm tìm hiểu phân tách thế nào về diện tích thu ngân sách của nước ta GĐ này?

Chúng tôi cảm thấy rằng trong các năm gần đấy diện tích tương đối của NSNN giảm rõ rệt. Thu ngân sách từ mức gần 30%GDP trong nhiều năm đã hạ xuống dao động hơn 23% GDP GĐ 2015-2018. Tuy nhiên diện tích vẫn cao hơn tương đối so có một vài quốc gia đang phát triển có lương thấp cũng như một vài nước ASEAN.

Ngoài ra, chúng tôi ước lượng diện tích thu ngân sách hợp lý của Việt Nam (có đặc điểm về thể chế, tăng trưởng kinh tế, cơ cấu kinh tế, điều kiện môi trường xung quanh, xã hội….) là dao động 23-24% GDP. Theo đấy, diện tích NSNN của Việt Nam GĐ gần đấy đã sát có mức hợp lý hơn, nhất là trong GĐ 2013-2016. Tuy vậy, từ 2017-2018, diện tích thu lại tăng cao hơn mức diện tích hợp lý dao động 8-10%.

Quy mô thu ngân sách cao có thể ảnh hưởng đến tiết kiệm của khu vực tư nhân, làm giảm đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh của khu vực này. Gánh nặng thuế cao có thể khuyến khích một vài hành vi gian lận, trốn thuế; và là môi trường tốt cho một vài hành vi tham nhũng của các người thực xây dựng vụ khi mà thỏa thuận cho gian lận và trốn thuế có lợi hơn nhiều nộp thuế. Quy mô thu ngân sách cao còn có bất lợi là Chính phủ còn ít không gian để có thể giảm thâm hụt ngân sách qua tăng thuế.

Quy mô thu ngân sách đã ở mức cao, khó có thể tăng lên thêm, dẫn đến việc chính phủ không có đủ nguồn ngân sách để tài trợ cho một vài làm việc dịch vụ công. Điều này buộc một vài địa phương và 1 số cơ quan quản lý nhà nước phải tự tìm nguồn tài chính để bù đắp. Đây cũng là 1 nguồn gốc giải đáp việc tồn tại nhiều khoản thu không thuộc cân đối NSNN. Rủi ro lạm dụng chính sách phân phối hàng xã hội hóa dịch vụ công làm tăng gánh nặng của xã hội có một vài khoản nộp ép buộc khi sử dụng dịch vụ.

Trong cơ cấu thu ngân sách, nhóm tìm hiểu thấy vấn đề gì cần phải lưu ý?

Cơ cấu theo nguồn cho thấy số thu NSNN từ làm việc sản xuất kinh doanh nội địa hiện đang là nguồn thu đấyng góp chính vào NSNN cũng như có tốc độ tăng lớn nhất trong số một vài khoản thu. Vai trò tăng lên của thu nội địa cho thấy thâm hụt ngân sách có nguy cơ tăng khi kinh tế gặp gặp khó, theo đấy sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến tính bền vững của thu NSNN.

Trong thu nội địa có 1 nhóm một vài khoản thu giữ vai trò rất quan trọng là thu từ nhà đất (13,8% trung bình GĐ 2016-2018), tuy nhiên chiếm mật độ cao nhất trong nhóm này lại là 1 khoản thu có tính chất 1 lần là thu từ giao quyền sử dụng đất. Khi thu NSNN vẫn còn tùy thuộc nhiều vào một vài nguồn tài nguyên chẳng thể tái tạo thì nền kinh tế dễ bị rơi vào 1 hiện trạng được gọi là “căn bệnh Hà Lan”.

Cơ cấu thu nội địa theo một vài thành phần kinh tế cho thấy sự sụt giảm mạnh mẽ trong đấyng góp từ một vài Doanh nghiệp Nhà nước. Tỷ lệ đấyng góp ngân sách của khu vực công ty FDI có xu hướng giảm đi (1 phần do một vài làm việc chuyển giá).

Tỷ lệ thu NSNN từ khu vực kinh tế tư nhân tăng lên trong GĐ từ 2006-2018 nhưng vẫn chưa tương xứng có mật độ của nhóm này trong GDP, 1 phần là do hiện trạng trốn thuế ở khu vực này diễn ra phổ biến. Điều này cho thấy quá trình cổ phần hóa DNNN sẽ cần phải đi cộng có cải thiện hiệu quả thu ngân sách ở khu vực kinh tế tư nhân nếu không muốn sự sụt giảm nguồn thu NSNN trong tương lai.

Có nhiều đề xuất rằng để thu được ngân sách thì tăng thuế cần được ưu tiên danh tiếng, vậy ông phân tách thế nào về tác động của một vài dự tính tăng thuế đến nền kinh tế?

Hiện nay, tỷ trọng thu NSNN từ thuế VAT, thuế TNDN và thuế XNK của Việt Nam hiện đã cao hơn mức trung bình của một vài nước đang phát triển châu Á, nên các đấyng góp từ nguồn thuế này khó có thể tiếp tục tăng lên. Hiện mức đấyng góp của VAT so có GDP của Việt Nam năm 2016 đã là 5,8% nên sẽ không thuận lợi tăng nguồn thu ngay cả khi tăng thuế suất do việc điều chỉnh hành vi tiêu dùng giữa một vài loại thuế.

Chỉ có 1 số loại thuế mà mật độ trong tổng thu NSNN ở Việt Nam vẫn thấp hơn mức trung bình một vài nước đang phát triển châu Á. Đây chính là các sắc thuế mà Việt Nam có thể kỳ vọng tăng thu trong tương lai để đàm bảo nguồn thu bền vững, bao gồm thuế lương cá nhân, thuế tiêu thụ độc đáo, thuế tài nguyên và thuế có BĐS.

Trước bối cảnh nguồn thu thiếu bền vững nêu trên, Bộ Tài chính đã nhiều lần đề xuất sửa đổi, bổ sung một vài Luật thuế theo hướng tăng mức thuế của nhiều sắc thuế. Câu hỏi đặt ra là liệu các sửa đổi tăng mức thuế thực sự có thể cải thiện nguồn thu NSNN và tác động tích cực đến nền kinh tế?

Dựa vào bảng cân đối liên ngành I-O cập nhật, nhóm tác giả đã tìm hiểu tác động của dự tính tăng thuế VAT và thuế tiêu thụ ở 1 số ngành: i) Đường, mật: VAT tăng từ 5% lên 6%; ii) Rượu một vài loại: Thuế TTĐB tăng từ 60% lên 65%; iii) Bia: Thuế TTĐB tăng từ 60% lên 65%; iv) Đồ uống không cồn, nước khoáng: Thuế VAT: 10-12% (2%); Thuế TTĐB: 0-10% (10%) đến tăng trưởng và thu ngân sách.

Kết quả cho thấy; tổng giá trị tăng thêm của cả nền kinh tế giảm 0,21%, GDP giảm 0,17% và ở chu kỳ sản xuất sau, thu ngân sách từ thuế gián thu có thể giảm dao động 0,14%. Trong trường hợp chẳng thể tăng giá, công ty sẽ giảm lợi nhuận, theo đấy, làm giảm về giá trị sản xuất không chỉ của một vài ngành trực tiếp bị ảnh hưởng bởi việc tăng thuế mà một vài ngành khác của nền kinh tế cũng bị ảnh hưởng. Từ đấy dẫn đến giá trị tăng thêm của một vài ngành giảm và tổng giá trị tăng thêm của nền kinh tế giảm 0,16%, GDP giảm 0,13% và thu ngân sách từ thuế gián thu giảm 0,091% ở chu kỳ sản xuất thứ hai.

Như vậy, dự tính tăng thuế VAT và tiêu thụ độc đáo ở 1 số ngành trong thời điểm GĐ này có thể chưa phải là biện pháp tốt nhất, không các có thể làm giảm thuế gián thu mà còn chưa có tác động hỗ trợ tăng GDP và tổng giá trị tăng thêm theo giá căn bản của nền kinh tế.

Vậy một vài ông khuyến nghị gì về vấn đề này?

Chúng tôi thấy rằng cần cải một vàih hệ thống thuế nhằm cắt giảm gánh nặng thuế khóa, tạo nguồn thu ngân sách ổn định và cân bằng cần được coi là quan điểm chủ đạo.

Do vai trò hạn chế của thuế liên quan đến tài sản như thuế sử dụng đất phi nông nghiệp và nông nghiệp, nên trong thời gian tới, Việt Nam cần nỗ lực để có thể ban hành loại thuế tài sản thích hợp thay vì tăng một vài loại thuế đánh vào tiêu dùng.

Bên cạnh đấy phải rà soát lại chính sách phân phối hàng miễn giảm thuế có một vài DN, nhất là DN FDI và mở phân phối công khai cho người dân biết, trên cơ sở đấy tính toán được phần thuế bị mất đi do miễn giảm thuế. Chính phủ cũng cần tiếp tục tăng cường quản lý thuế nhằm chống thất thu ở khu vực kinh tế ngoài quốc doanh và khu vực FDI.

Cũng cần lưu ý rằng, nguồn thu ngân sách không phải là thuế đang càng ngày càng tăng. Nguồn đấyng góp lớn nhất trong số này là mục khác trong thu không ngừng nghỉ và thu về vốn. Về bản chất, một vài khoản thu này là tiền phân phối tài sản (chủ yếu là đất), đấy là nguồn thu rất không bền vững. Trong tương lai gần, nguồn thu này sẽ mau chóng cạn kiệt và ngân sách nhà nước sẽ bị thâm hụt hơn nếu không có phương án cắt giảm chi tiêu hiệu quả và tìm nguồn thu bền vững hơn.

Xin cảm ơn các chia sẻ của ông!

GS.TS Trần Thọ Đạt: Rủi ro tài khóa sẽ càng ngày càng tăng lên



Bạn đang xem chuyên mục tai chinh ngan hang của CTT.EDU.VN

COMMENTS

WORDPRESS: 0
DISQUS: