Vì sao hồ nước thượng nguồn không làm mát lãi suất?

Đã nửa quý 2/2019 trôi qua nhưng lãi suất huy động VND ở các ngân hàng không hạ, sau khi tăng từ cuối 2018. Trước thực ở trên, nhìn sang phân khúc l

Ráo riết kiểm soát chất lượng tín dụng
Giá vàng miếng đảo chiều giảm phiên cuối tuần
MB là một trong bốn ngân hàng đạt thương hiệu quốc gia năm 2018

Đã nửa quý 2/2019 trôi qua nhưng lãi suất huy động VND ở các ngân hàng không hạ, sau khi tăng từ cuối 2018.

Trước thực ở trên, nhìn sang phân khúc liên ngân hàng, ở 1 số thời điểm vẫn có câu hỏi đặt ra: ở sao nước ở hồ thượng nguồn này không chảy hẳn xuống các ruộng đồng để làm mát lãi suất?

Với góc nhìn trên, trực quan so sánh: lãi suất VND trên phân khúc liên ngân hàng ổn định phổ biến chỉ trong 3 – 4%/năm, thậm chí qua đêm có các khi chỉ hơn 2%/năm; trong khi đấy lãi suất huy động VND các ngân hàng thương mại vẫn khá cao, từ 5 – 9%/năm…

So sánh đấy cũng rõ hơn trong tuần này, khi lãi suất VND trên liên ngân hàng có xu hướng giảm mà Ngân hàng Nhà nước phải đẩy mạnh điều tiết qua tăng lượng phát hành tín phiếu hút tiền về, nhưng lãi suất huy động VND vẫn chưa có dấu hiệu giảm rõ rệt.

BizLIVE tham vấn 1 lãnh đạo ngân hàng thương mại, góc nhìn và kỹ thuật của dòng chảy trên lại khác.

“Có thể có nhiều người, bình thường họ xem nguồn vốn và lãi suất trên phân khúc liên ngân hàng là thượng nguồn. Nhưng không phải vậy. Hai kênh khá độc lập, vì có vai trò và mục đích khá độc lập. Thậm chí, nếu nói hình ảnh như trên thì nguồn vốn huy động từ dân cư và lãi suất trên phân khúc chuyển nhượng có dân cư và tổ chức kinh tế mới là thượng nguồn”, vị lãnh đạo trên giải đáp.

Cụ thể, phân khúc liên ngân hàng có công dụng điều hòa vốn ngắn hạn trong hệ thống, hỗ trợ thanh khoản có các kỳ hạn ngắn. Trong khi đấy, phân khúc chuyển nhượng giữa ngân hàng có dân cư và tổ chức kinh tế rộng lớn hơn, còn gắn có tín dụng có cơ cấu trung dài hạn khá lớn (tỷ trọng trên 50%).

Vậy thì, chẳng thể lạm dụng nguồn ngắn hạn để điều hòa, làm mát được nơi có tỷ trọng trung dài hạn lớn.

Thứ nữa, nhân tố nguồn qua diện tích chuyển nhượng trên phân khúc liên ngân hàng nhỏ hơn, chỉ dao động vài trăm nghìn tỷ có tính thời điểm, khó có thể tác động rõ nét đối có diện tích dao động 7,4 triệu tỷ đồng tín dụng ở phân khúc ngân hàng có dân cư và tổ chức, hay có hơn 8 triệu tỷ đồng nguồn vốn huy động.

“Nói 1 cách hình ảnh, 1 thùng nước nhỏ thì khó làm mát được 1 cỗ máy lớn đang căng guồng”, vị lãnh đạo trên nói.

Qua các đánh giá trên, vị lãnh đạo ngân hàng này cho rằng, góc nhìn hợp lý hơn thì cần xem phân khúc giữa ngân hàng có dân cư và tổ chức kinh tế mới chính là hồ nước thượng nguồn, có khả năng điều hòa lãi suất trên liên ngân hàng.

Theo đấy, nếu ngân hàng huy động tốt nguồn tiền gửi dân cư và tổ chức, vốn khả dụng và thanh khoản tốt thì lãi suất trên liên ngân hàng khó mà dâng cao, do nhu cầu bù đắp thanh khoản hệ thống hạn chế đi.

Vấn đề chung trong câu chuyện “làm mát” lãi suất ở đấy nằm ở chỗ: các ngân hàng có đang huy động tốt, thuận lợi và có tốc độ tăng trưởng cao từ nguồn dân cư và tổ chức không?

Khoảng 1 năm trở lại đấy, tốc độ huy động vốn của hệ thống có dấu hiệu chậm hơn tăng trưởng tín dụng. Nguồn tiền gửi vào hệ thống ngân hàng không tăng trưởng mạnh như GĐ trước.

Vậy điều đấy có bất lợi hay tiêu cực không?

Vị lãnh đạo trên cho đấy là câu hỏi khó, vì tùy thuộc vào các cấu phần trên phân khúc.

Đó là, nếu nền kinh tế bình phục và tăng trưởng tốt, các phân khúc hay các kênh khác như chứng khoán, BĐS, thậm chí tự doanh… tăng thêm động lực và lôi kéo nguồn vốn, kênh gửi vào ngân hàng bị chia sẻ. Nếu vậy, cân đối này phát triển thành tích cực, vì xét theo việc gửi vào ngân hàng là 1 trong các cách dễ làm và “dễ” nhất; và nguồn tiền đi theo tăng thêm động lực các làm việc trong nền kinh tế đấy thì có thể cắt giảm nhân tố và kinh phí trung gian, có sức lan tỏa trực tiếp hơn tín dụng.

Nhưng nếu nhìn ở 1 cấu phần khác, nguồn vốn vào ngân hàng không tăng trưởng cao được như trước do các kênh khác lôi kéo như cho vay ngang hàng, trái phiếu công ty, thậm chí tín dụng đen, thì vẫn còn đắn đo trong các quan điểm, nhất là nhìn về khía cạnh và mức độ rủi ro so có gửi ngân hàng.

“Tóm lại, trong nền kinh tế đa số nguồn tiền và dòng tiền vẫn nằm ngoài hệ thống ngân hàng. Để lôi kéo, khi mà có thêm tranh đua từ các kênh khác, các ngân hàng thường sử dụng công cụ lãi suất. Cạnh tranh và sự chia sẻ càng lớn, lãi suất huy động ngân hàng càng khó giảm”, vị lãnh đạo ngân hàng trên nói.

Mặt khác, có nội ở hệ thống ngân hàng Việt Nam, đặc biệt cung cấp nhu cầu vốn trung dài hạn cho nền kinh tế khá lớn (tỷ trọng chiếm trên 50% tổng dư nợ), sức ép thanh khoản trong cân đối nguồn (do huy động vẫn chủ yếu nguồn ngắn hạn) cũng góp thêm nhân tố khiến lãi suất huy động khó giảm.

Giải mã cơn sốt lãi suất chứng chỉ tiền gửi “ngất ngưởng” 9%/năm

Bạn đang xem chuyên mục tai chinh ngan hang của CTT.EDU.VN

COMMENTS

WORDPRESS: 0
DISQUS: