Việt Nam không thể cấm được cho vay ngang hàng?

Một công ty kinh doanh nền móng cho vay ngang hàng, đâu đó mới thành lập vào tháng 12/2017, mà bây giờ mỗi 1 ngày họ nhận được đến 2.000 đơn xin vay.

Tín dụng thắt chặt có ảnh hưởng đến lợi nhuận các nhà băng?
Lãi dự thu của các ngân hàng đã lên đến bao nhiêu?
Nghịch lý thu phí ngân hàng: Giảm dùng tiền mặt, phí vẫn tăng vì đâu?

Một công ty kinh doanh nền móng cho vay ngang hàng, đâu đó mới thành lập vào tháng 12/2017, mà bây giờ mỗi 1 ngày họ nhận được đến 2.000 đơn xin vay. Như vậy, rõ ràng vẫn biết là rủi ro, nhưng nhu cầu luôn đã đi vào vận hành.

“Cho vay ngang hàng là chúng ta đang hiểu theo nghĩa tiếng anh, hiểu sát hơn là cho vay trực tiếp hay cho vay trực tuyến. Quá trình này bao gồm 1 đơn vị đứng giữa là công ty cung cấp nền móng công nghệ, bên này là người cho vay, bên kia là người đi vay, trong đó công ty cung cấp phần mềm giống như là Uber hay Grab. Chúng ta phải nhớ, Uber và Grab là đơn vị cung cấp phần mềm, làm môi giới cho bên có nhu cầu và bên có nguồn cung”, tiến sĩ Cấn Văn Lực – Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV – phát biểu ở buổi Tập huấn kiến thức về phân khúc tài chính tiêu dùng mới đó.

Hiểu nôm na, người vay tiền và người cho vay sẽ kết nối thông qua áp dụng trực tuyến trên di động hoặc máy tính – tức nền móng công nghệ Fintech (Blockchain). Thông qua nền móng Blockchian, đơn vị vận hành P2P sẽ cung cấp gói vay từ tín chấp, thế chấp đến mua trả góp… Blockchain khi này là 1 cuốn sổ ghi chép lại toàn bộ các chuyển nhượng, thỏa thuận, hợp đồng mà tài liệu của nó được lưu trữ và chia sẻ ở rất nhiều máy tính trong hệ thống.

Như vậy, mọi tài liệu về thành viên đều được lưu trữ và có thể truy cập, người đi vay có thể tự tiếp cận người cho vay mà không cần thông qua trung gian nên cắt giảm các mức phí hay lãi suất đắt đỏ như ngân hàng, người cho vay cũng có nhiều chọn lọc cho vay có 1 dữ liệu đối tác lớn.

Cho vay ngang hàng (P2P) chiếm 30-40% dư nợ tín dụng Trung Quốc, và Việt Nam thì chẳng thể cấm được! - Ảnh 1.

Cho vay ngang hàng chiếm 30-40% dư nợ tín dụng Trung Quốc

Mô hình này đang rất phát triển trong các năm gần đó, đặc thù ở Trung Quốc riêng dư nợ tín dụng trên nền móng cho vay ngang hàng tính đến cuối năm ngoái đạt từ 30-40% tổng dư nợ, ông Lực chia sẻ. Hơn nữa, quốc gia đông dân này từng có dao động 6.000 công ty cho vay trực tuyến vận hành, tuy nhiên đến nay đang giảm vì cũng dần biến tướng.

Như vậy, chúng ta cần đặt vấn đề vì sao cho vay ngang hàng phát triển và phải phát triển, nó có lại các lợi ích gì?

+ Thứ nhất, chuyên gia nói, phát sinh nhu cầu đó vì rõ ràng luôn có người cần vay và có người cần cho vay.

+ Thứ hai, phát sinh nhu cầu đó vì công nghệ đang phát triển rất nhanh và hỗ trợ cho nhu cầu đã đi vào vận hành, tức vận hành tín dụng khi này sẽ không cần thông qua các định chế tài chính trung gian, kinh phí thấp vì không cần nhân viên hay chi nhánh, trụ sở… dẫn đến kinh phí chuyển nhượng thấp.

+ Cuối cộng là lãi suất nếu hai bên thỏa thuận xong thì áp dụng và không quá căng.

Nhưng, toàn bộ lợi ích đó chỉ tối ưu khi chuyển nhượng diễn ra thông thường, thực ở cho vay ngang hàng lại biến tướng.

Vậy, biến tướng là gì?

Trả lời câu hỏi này, ông Lực cho biết Thứ nhất xuất phát từ chính bản thân người huy động vốn, người ta lấy tiền huy động được và làm đầu tư chuyện khác…

Cùng có đó, biến tướng còn được hiểu là mối quan hệ giữa người cung cấp nền móng công nghệ và nhà đầu tư (bên cho vay) không rõ ràng.

Thách thức hay biến tướng thứ ba, ông Lực nhấn mạnh, là chưa có cơ sở pháp lý. Hiện nay thì khung pháp lý cho mô hình tín dụng này chưa đã đi vào hoạt động. Trong đó, mặc dù rủi ro ở cả bên cho vay và đi vay nhưng bên cho vay (nhà đầu tư) sẽ rủi ro hơn, vì nếu nó có vấn đề thì sẽ mất tiền và không biết kêu cứu đến ai?

Cũng nhận định về tính pháp lý, vị chuyên gia này nói thêm, cho vay ngang hàng bản chất là cho vay dân sự. Nó đã xuất hiện trên thế giới từ lâu và chỉ có Việt Nam là mới đó, bởi thế về mặt hình thức căn bản đã có hình hài. Và ở chỗ này, vấn đề chúng ta cần làm theo ông Lực là khâu quản lý, bao gồm:

(1) Một là đơn vị cung cấp phần mềm hệ thống vận hành;

(2) và thứ hai là quản lý người đầu tư.

Điển hình ở Mỹ hiện giao cho cơ quan quản lý vốn kiểm soát, đồng thời việc quản lý hệ thống phần mềm công nghệ cũng rất chặt, cán bộ nhân viên và cả đơn vị đều được cấp phép hành nghề. Hơn nữa, Mỹ còn cấp phép cho nhà đầu tư, bởi bản chất người cho vay ở đó là nhà đầu tư. Còn bên cung cấp phần mềm chỉ thu thập vốn từ đó phân bổ.

Như vậy, làm sao để quản lý là quan trọng, “và theo tôi phải đưa ra giới hạn, không cho phép công ty trung gian huy động vốn quá nhiều”, ông Lực nhấn mạnh.

Song song, chúng ta cũng cần giới hạn người đầu tư, ví dụ lương của người đầu tư bao nhiêu thì chỉ nên đầu tư trong hạn mức chắc chắn được tín an toàn. Đồng thời, chuyên gia này còn cho rằng phải giao cho cơ quan giám sát hệ thống tài chính, điều này là cần thiết mặc dù Việt Nam không cần thiết giao cho Uỷ ban Chứng khoán…

Tựu trung lại, P2P chẳng thể cấm được vì nó là xu hướng tất yếu của công nghệ, vấn đề là chúng ta phải có cơ sở pháp lý hoàn chỉnh thì hoàn toàn là tốt, tiến sĩ này khẳng định. Điển hình, giai đoạn này có 1 công ty kinh doanh nền móng này, đâu đó mới thành lập vào tháng 12/2017, mà bây giờ mỗi 1 ngày họ nhận được đến 2.000 đơn xin vay. Như vậy, rõ ràng vẫn biết là rủi ro, nhưng nhu cầu luôn đã đi vào vận hành.

Dịch vụ cho vay ngang hàng (P2P): Tiềm ẩn quá nhiều rủi ro

Bạn đang xem chuyên mục tai chinh ngan hang của CTT.EDU.VN

COMMENTS

WORDPRESS: 0
DISQUS: