WB: Việt Nam là một trong những quốc gia đi đầu về thu hút vốn FDI

Năm 1987 là 1 dấu mốc lịch sử đối có Việt Nam, khi Luật Đầu tư nước ngoài ở Việt Nam chính thức được Quốc hội thông qua lần Thứ nhất. Sau 30 năm, dò

Người Việt Nam sẵn sàng chi tiền cho du lịch, mua hàng công nghệ, nhưng vẫn đứng đầu thế giới về tiết kiệm
Thủ tướng: “Đưa Việt Nam thành cường quốc về công nghệ thông tin”
Dịch chuyển bất ngờ trên “bản đồ” tỷ phú USD Việt Nam

Năm 1987 là 1 dấu mốc lịch sử đối có Việt Nam, khi Luật Đầu tư nước ngoài ở Việt Nam chính thức được Quốc hội thông qua lần Thứ nhất.

Sau 30 năm, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã có những đấyng góp quan trọng cho nền kinh tế Việt Nam, từ 1 nước nghèo, Việt Nam đã vươn lên trở thành quốc gia có mức thu nhập trung bình trong khu vực và là 1 trong những nơi lôi kéo vốn nước ngoài mạnh mẽ nhất.

Tuy nhiên, như nhiều quốc gia khác, Việt Nam cũng đang phải đối mặt có bài toán khó về việc làm thế nào để tận dụng vốn FDI 1 nhữngh hiệu quả nhất mà vẫn hạn chế tối đa những tác động tiêu cực của dòng vốn này đối có nền kinh tế.

Liên quan đến vấn đề trên, phóng viên Thông tấn xã Việt Nam đã có cuộc thảo luận có ông Sebastian Eckardt, chuyên gia kinh tế trưởng của Ngân hàng Thế giới (WB) ở Việt Nam.

– Ông phân tích như thế nào về bức tranh lôi kéo và những tác động của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đối có kinh tế Việt Nam trong 30 năm qua?

Ông Sebastian Eckardt: Trong 30 năm qua, Việt Nam đã khá thành công trong việc lôi kéo FDI và nguồn vốn này đã đấyng góp cho nền kinh tế theo nhiều nhữngh khác nhau. Trong đấy phải kể đến vai trò của FDI có quá trình công nghiệp hóa đất nước.

Bởi Việt Nam có lượng FDI đầu tư nhiều vào lĩnh vực chế tạo, góp phần thi công năng lực sản xuất ở 1 loạt ngành nghề như điện tử cùng nhiều ngành công nghiệp truyền thống khác như may mặc và giày dép…

Ngoài ra, dòng vốn FDI cũng là nhân tố hỗ trợ làm việc xuất khẩu của Việt Nam tốt hơn. FDI giúp kiến tạo thêm hàng trăm ngàn việc làm có hiệu suất cao cùng mức thu nhập quyến rũ.

Những công việc này có thể được tạo ra 1 nhữngh trực tiếp, hoặc gián tiếp, thông qua việc đẩy mạnh nhu cầu tiêu thụ dịch vụ thi công, hoặc thậm chí là những nông sản được sử dụng để cung cấp cho những nhà máy.

[Triển vọng FDI 2018 và 1 số điểm sáng về lôi kéo vốn đầu tư]

Do đấy, tôi cho rằng, lôi kéo FDI là 1 mảnh ghép rất thành công trong bức tranh kinh tế của Việt Nam trong vòng 3 thập kỷ qua.

– Ông phân tích như thế nào về tiềm năng lôi kéo FDI của Việt Nam so có những nước trong khu vực?

Ông Sebastian Eckardt: Việt Nam đã và sẽ là 1 trong những quốc gia đi đầu trong khu vực về khả năng lôi kéo FDI. Điều này biểu hiện qua mật độ đấyng góp của dòng vốn này vào Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của nền kinh tế.

Hiện có dao động 12.000 công ty FDI đang làm việc ở Việt Nam trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Các công ty FDI không chỉ góp phần vào quá trình sản xuất mà còn trình làng thêm những sản phẩm mới vào Việt Nam. Vì thế, phải nói rằng Việt Nam đã khá thành công trong việc lôi kéo nhiều nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.

Mặc dù vậy, có 1 lưu ý quan trọn: vẫn có nhiều nguồn vốn đầu tư vào Việt Nam hiện được phân bổ tới những ngành nghề sử dụng nhiều lao động có kỹ năng thấp, thuộc khâu lắp ráp cuối cùng. Vì thế, khi nhìn vào chuỗi giá trị toàn cầu, Việt Nam không có lợi thế tranh giành vì Việt Nam chỉ đang đấyng vai trò là nơi lắp ráp cuối cùng.

Tôi cho rằng Việt Nam cần chuyển hướng sang lôi kéo FDI vào những phân khúc cao hơn, nhằm phong phú hóa nền kinh tế trong chuỗi giá trị toàn cầu, và độc đáo là chú trọng vào sản xuất những thành phẩm có giá trị lớn.

Để làm được điều đấy, Việt Nam có thể tập trung vào đầu tư tìm hiểu và phát triển (R&D), hoặc những dòng chảy thuận chiều, ví dụ như tiếp thị và phát triển thương hiệu. Điều này sẽ giúp làm tăng thêm giá trị và tạo ra lợi ích lớn hơn cho nền kinh tế.

Việt Nam đã gia nhập chuỗi giá trị toàn cầu 1 nhữngh thành công. Đến nay, công đoạn này vẫn đang phát triển có tốc độ nhanh hơn không chỉ những nước khác trong khu vực, mà còn so có cả những nền kinh tế có chung mức thu nhập.

Việt Nam cần nâng cao tính tranh giành thông qua việc đầu tư vào phát triển những kỹ năng và cơ sở hạ tầng, độc đáo là hạ tầng kết nối, bởi vì những chuỗi cung ứng toàn cầu giai đoạn này được hoạt động theo hướng rất nghiêm ngặt và kịp thời.

Do đấy, nền móng cơ sở hạ tầng phải cung cấp được những đề nghị đấy, cả về mặt hữu hình, (ví dụ như hệ thống cảng biển, đường sắt và mạng lưới giao thông) và hạ tầng về mặt vô hình (ví dụ như quy trình xử lý những thủ tục hải quan, hành chính).

Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng đấy là đầu tư vào con người. Việt Nam có lợi thế có lực lượng lao động tương đối trẻ, có 1 nửa dân số lao động dưới 35 tuổi.

Theo tôi, Việt Nam muốn tranh giành ở cấp độ cao hơn điều quan trọng là phải thi công 1 hệ thống đào tạo nghề tốt, nhằm nâng cao năng lực tranh giành và tạo điều kiện để lao động trong nước thực hiện những công việc có lại giá trị cao hơn. Đây là điều cốt lõi mà Việt Nam cần chú tâm trong thời gian tới.

– 30 năm qua, Việt Nam đã tích cực cải thiện môi trường kinh doanh, lôi kéo đầu tư nước ngoài, ông phân tích như thế nào về những kết quả đạt được trong cải thiện môi trường đầu tư? Và đâu là những thách thức trong vấn đề này?

Ông Sebastian Eckardt: Việt Nam đã tận dụng những lợi thế thông qua việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), đưa ra những chính sách bán hàng tự do hoá thương mại và nỗ lực ký kết rất nhiều hiệp định thương mại song phương và đa phương khác.

WB: Việt Nam là 1 trong những quốc gia đi đầu về lôi kéo vốn FDI - Ảnh 1.

Sản xuất linh kiện cơ khí ở Công ty Misumi Việt Nam – Khu chế xuất Linh Trung, Thủ Đức, Tp.Hồ Chí Minh. (Ảnh: Thanh Vũ/TTXVN)

Số hiệp định thương mại mà Việt Nam đã ký có những đối tác nhiều hơn toàn bộ những nền kinh tế Đông Á khác (trừ Singapore). Vì thế, có thể coi đấy là 1 trong số những nền kinh tế mở cửa nhất.

Ngoài ra, Việt Nam đã tập trung cải thiện môi trường đầu tư và kinh doanh, thông qua việc hạn chế những rào cản đầu tư, kinh doanh, cắt giảm thuế và cải thiện hệ thống quản lý thuế cũng như quy trình xử lý những thủ tục hải quan… Có thể nói, đấy chính là những nhân tố quan trọng dẫn đến thành công về lôi kéo FDI của Việt Nam trong thời gian qua.

Mặc dù vậy, Việt Nam vẫn còn những hạn chế trong môi trường đầu tư kinh doanh cần cải thiện để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vĩ mô nhìn chung và lôi kéo FDI nói riêng.

Hiện Chính phủ Việt Nam đang ưu tiên đẩy lùi nạn quan liêu, cũng như tinh giản những thủ tục để xoá bỏ những bước không cần thiết được cùng đồng quốc tế phân tích cao.

Ngoài ra, tôi cho rằng, Việt Nam cần có những chính sách bán hàng chắc chắn tính hiệu quả và thân thiện có công ty, để không gây ra những gánh nặng không đáng có cho họ.

– Thế giới đang bước vào kỷ nguyên 4.0, Việt Nam đang đứng trước thách thức làm sao lôi kéo những nhà đầu tư nước ngoài danh tiếng về công nghệ tài liệu. Theo ông, Việt Nam cần làm gì để lôi kéo dòng đầu tư này?

Ông Sebastian Eckardt: Cuộc nhữngh mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang tạo ra những tác động sâu rộng đến những ngành công nghiệp mà trước đấy Việt Nam từng rất thành công.

Để tận dụng được cuộc nhữngh mạng này, theo tôi Việt Nam cần đầu tư vào con người và phát triển những kỹ năng cần thiết. Việt Nam cần đào tạo được những nhân công có kỹ năng thích hợp để cung cấp đề nghị việc làm, trao cho họ thời cơ hợp tác có máy móc, hơn là tranh giành có chúng.

Vì thế, tôi cho rằng việc đầu tư vào giáo dục đào tạo, độc đáo là những môn công nghệ khoa học và toán học, là chìa khóa để lôi kéo dòng vốn FDI trong kỷ nguyên kỹ thuật số, bởi vì đấy sẽ là những kỹ năng được tìm kiếm trong tương lai.

– Xin trân thành cảm ơn ông!./.



Hà Nội đứng đầu về lôi kéo vốn FDI

Bạn đang xem chuyên mục Kinh Te VI Mo Dau Tu ở CTT.EDU.VN

COMMENTS

WORDPRESS: 0
DISQUS: 0